
Các đồng chí lãnh đạo HĐND thành phố và các đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu Trung tâm hành chính thành phố, ảnh: Báo Đà Nẵng
Dự thảo Luật gồm 9 chương, 68 điều, được xây dựng thay thế Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15. Trên cơ sở kế thừa những quy định phù hợp đã được thực tiễn kiểm nghiệm, dự thảo Luật cụ thể hóa 5 chính sách của dự án Luật, với 12 nội dung sửa đổi, hoàn thiện và 14 nội dung bổ sung. Đồng thời, dự thảo đề xuất lược bỏ 5 nhóm hình thức VBQPPL, cắt giảm và đơn giản hóa thời gian, quy trình thực hiện một số khâu trong quá trình xây dựng văn bản. Số lượng hình thức VBQPPL được đề xuất giảm từ 22 xuống còn 17. Theo đó, dự thảo không tiếp tục quy định 5 nhóm hình thức, gồm: nghị quyết của Quốc hội; nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; quyết định của Chủ tịch nước; nghị quyết của Chính phủ; và các nghị quyết liên tịch có sự tham gia của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Việc tinh gọn này được thực hiện theo nguyên tắc mỗi chủ thể có thẩm quyền chỉ ban hành một hình thức VBQPPL.
Cùng với việc sắp xếp các hình thức văn bản, dự thảo Luật hướng đến đơn giản hóa quy trình xây dựng luật, pháp lệnh, đồng thời tiếp tục phân định rõ quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo. Một điểm mới đáng chú ý là quy trình xây dựng chính sách không còn bước thẩm định chính sách như quy định hiện hành. Tuy nhiên, để đảm bảo kiểm soát chất lượng chính sách, dự thảo Luật đề cập quy định lấy ý kiến bằng văn bản của 07 Bộ và Thanh tra Chính phủ. Dự thảo Luật cũng có quy định riêng về quy trình, thủ tục và hiệu lực của nghị định, pháp lệnh điều chính quy định của luật trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp được.
Tăng cường trách nhiệm tổ chức thi hành pháp luật
Không chỉ tập trung đổi mới quy trình xây dựng văn bản, dự thảo Luật còn chú trọng nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng. Theo đó, dự thảo bổ sung nguyên tắc “gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành pháp luật”, qua đó nhấn mạnh mối liên hệ xuyên suốt giữa quá trình hình thành quy định pháp luật và việc đưa các quy định vào thực tiễn.
Một điểm đáng chú ý là nội dung về tổ chức thi hành VBQPPL được hệ thống hóa thành một chương riêng – Chương VIII, gồm 9 điều. Các quy định tập trung hoàn thiện trách nhiệm tổ chức thi hành pháp luật; giải thích, hướng dẫn áp dụng văn bản; kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL,...đồng thời bổ sung trách nhiệm đánh giá hiệu quả thi hành và phản ứng chính sách.
Những sửa đổi, bổ sung này cho thấy định hướng hoàn thiện pháp luật không chỉ dừng ở việc nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành văn bản mà còn hướng đến hiệu quả thực thi trên thực tế. Đây cũng là cơ sở để tăng cường trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền, kịp thời phát hiện những bất cập trong quá trình áp dụng và điều chỉnh chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển.
Từ thực tiễn đến hoàn thiện chính sách
Thực tiễn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 và Luật sửa đổi, bổ sung số 87/2025/QH15 cho thấy các nội dung sửa đổi, bổ sung được đề cập tại dự thảo Luật là rất cần thiết. Một số nội dung cần được tiếp tục hoàn thiện để tháo gỡ vướng mắc, nhất là đối với các vấn đề liên quan thi hành pháp luật và xây dựng, ban hành VBQPPL của chính quyền địa phương.
Đơn cử như quy định về xác định thứ bậc pháp lý của hệ thống VBQPPL. Điều 4 dự thảo Luật quy định thứ bậc hiệu lực pháp lý của 12 loại VBQPPL, cao nhất là Hiến pháp và thấp nhất là quyết định của UBND cấp xã. Cách thiết kế này rõ thứ bậc pháp lý theo “chiều dọc”, tuy nhiên chưa làm rõ thứ bậc hiệu lực pháp lý theo “chiều ngang” đối với một số loại VBQPPL cùng loại. Ví dụ như khoản 6 Điều 4 quy định về Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; thông tư của Tổng Kiểm toán nhà nước; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Trong trường hợp các văn bản này quy định khác nhau, có sự giao thoa về nội dung thì áp dụng như thế nào? Đây là vấn đề khá vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật tại các địa phương nên cần được nghiên cứu, quy định phù hợp.
Hai là quy định về thời điểm có hiệu lực của văn bản quy định chi tiết, văn bản quy định nội dung được giao. Điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 8 dự thảo Luật quy định văn bản quy định chi tiết/văn bản quy định nội dung khác được giao phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm với văn bản hoặc điều khoản giao. Nội dung như dự thảo là phù hợp đối với trường hợp Chính phủ trình Quốc hội thông qua dự án Luật, trong nội dung Luật có giao Chính phủ quy định chi tiết và hồ sơ trình có cả dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết nội dung được giao.
Tuy nhiên, đối với chính quyền địa phương, thực tế HĐND, UBND cấp tỉnh được giao quy định chi tiết nhiều nội dung do Chính phủ, các Bộ giao và nhiều trường hợp Chính phủ, Bộ ban hành VBQPPL có hiệu lực ngay. Do vậy, quy định văn bản quy định chi tiết/văn bản quy định nội dung khác được giao phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm với văn bản hoặc điều khoản giao phải loại trừ trường hợp văn bản trung ương giao địa phương quy định chi tiết nhưng văn bản trung ương được ban hành và có hiệu lực ngay.
Ba là, các trường hợp chính quyền địa phương ban hành ban hành VBQPPL. So với Luật hiện hành đã mở rộng các trường hợp ban hành VBQPPL của UBND cấp tỉnh. Luật hiện hành quy định “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định: a) Chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên”, dự thảo Luật bổ sung nội dung “và nội dung HĐND cùng cấp giao”.
Trong thực tế, HĐND thường giao UBND tuỳ nội dung ban hành quy định/hướng dẫn,.. về một vấn đề cụ thể nào đó. Do vậy, nếu quy định như dự thảo Luật dễ dẫn đến cách hiều “các nội dung HĐND giao thì UBND cùng cấp đều ban hành ở hình thức VBQPPL”. Do vậy cần được quy định rõ hơn, tạo thuận lợi trong thực hiện.
Bên cạnh đó, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 18 về việc HĐND cấp tỉnh ban hành nghị quyết đề “Thực hiện thí điểm cơ chế, chính sách theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các luật khác” cần được giao Chính phủ ban hành chi tiết về trình tự, thủ tục thực hiện để phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 15 Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 (vì theo Luật Tổ chức chính quyền thì HĐND cấp tỉnh phải báo cáo và được Thủ tướng Chính phủ đồng ý mới được ban hành chính sách thí điểm).
Thực tiễn thi hành Luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi bởi Luật số 87/2025/QH15 và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng cho thấy những bất cập trong quy trình đăng ký xây dựng, sọan thảo nghị quyết QPPL như việc có thực hiện thủ tục đăng ký xây dựng nghị quyết trong trường hợp nội dung chính sách do Thường trực HĐND đề nghị UBND cùng cấp chỉ đạo xây dựng và trình HĐND thành phố,.. Vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật trình Quốc hội xem xét, quyết định, cơ quan soạn thảo cần chú trọng rà soát, sửa đổi các nghị định của Chính phủ quy định về quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL của chính quyền địa phương. Đây là yêu cầu cần thiết nhằm tinh gọn thủ tục, rút ngắn quy trình và nâng cao khả năng phản ứng chính sách của chính quyền địa phương, đáp ứng yêu cầu vận hành của mô hình tổ chức mới.