
Đại biểu Trần Mạnh Huy, Đoàn thành phố Đà Nẵng thảo luận (Ảnh Quốc hội)
“Điều 38 của dự thảo Luật, về việc công nhận danh tính điện tử và kết quả xác thực của nước ngoài - Điều khoản này ngắn nhưng hệ quả lớn, vì nó quyết định người dân và doanh nghiệp Việt Nam có thể tin cậy đến đâu khi giao dịch với đối tác bên kia biên giới.
Tôi đánh giá cao hướng mở của Điều 38. Kinh tế số không dừng ở biên giới quốc gia. Muốn doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, danh tính điện tử phải được công nhận và liên thông. Tôi cũng đồng tình để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và nhà cung cấp dịch vụ tại Việt Nam được xử lý kịp thời khi một kết quả xác thực không còn đáng tin cậy. Thiếu cơ chế ấy, khó ngăn ngừa giả mạo và gian lận.
Tuy nhiên, tôi thấy dự thảo còn một khoảng trống cần làm rõ. Khoản 2 đã quy định rõ quyền của tổ chức cung cấp dịch vụ được thay đổi trạng thái công nhận. Nhưng khoản 4 mới chỉ giao Chính phủ quy định chi tiết, chưa nêu rõ trách nhiệm của các bên và việc xử lý hậu quả pháp lý đối với giao dịch đã phát sinh khi công nhận bị tạm dừng, hủy bỏ hoặc chấm dứt. Quyền đã rõ, nhưng hệ quả thì chưa.
Xin nêu một tình huống. Doanh nghiệp Việt Nam ký hợp đồng dựa trên kết quả xác thực nước ngoài đã được công nhận. Hàng đã giao, tiền đã thanh toán. Sau đó, nhà cung cấp phát hiện rủi ro và hủy bỏ công nhận. Quyết định có hiệu lực từ khi nào? Giao dịch trước đó được xem xét ra sao? Ai có trách nhiệm thông báo, ai lưu giữ chứng cứ, ai chịu trách nhiệm nếu hủy bỏ nhầm?
Cần phân biệt hai việc: thay đổi trạng thái tin cậy của một kết quả xác thực, và xác định hiệu lực pháp lý của giao dịch đã thực hiện. Về kỹ thuật, khi một chứng thư số bị thu hồi, thời điểm và lý do thu hồi luôn được ghi nhận để phân định trước và sau mốc đó. Pháp luật cần phản ánh đúng logic này. Gian lận, giả mạo phải bị xử lý nghiêm. Nhưng việc ngừng công nhận một kết quả xác thực không nên tự động làm vô hiệu mọi giao dịch từng dựa vào kết quả đó. Nếu khoảng trống này kéo dài, mỗi nơi sẽ hiểu và áp dụng một cách, và chi phí của sự thiếu chắc chắn sẽ do doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, gánh chịu.
Vì vậy, tôi đề nghị bổ sung vào Điều 38 ba nguyên tắc.
Thứ nhất, quyết định tạm dừng, hủy bỏ hoặc chấm dứt công nhận phải xác định rõ phạm vi, thời điểm có hiệu lực và trách nhiệm thông báo cho bên liên quan.
Thứ hai, việc thay đổi trạng thái công nhận không tự động làm mất hiệu lực của giao dịch đã xác lập trước đó. Hiệu lực giao dịch được xác định theo pháp luật áp dụng.
Thứ ba, phải xác định trách nhiệm bảo toàn chứng cứ, phối hợp xác minh, khắc phục sai sót và bồi thường thiệt hại khi có căn cứ. Phần trình tự, thủ tục và yêu cầu kỹ thuật giao Chính phủ quy định chi tiết.
Đây là những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của chủ thể giao dịch, nên cần được đặt ở cấp luật. Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ phần đã được pháp luật hiện hành điều chỉnh và bổ sung các nguyên tắc còn thiếu, để có một cơ chế vừa ngăn chặn gian lận hiệu quả, vừa giữ ổn định cho các giao dịch hợp pháp”.

Quang cảnh phiên thảo luận (Ảnh Quốc hội)
Những ý kiến góp ý của đại biểu Trần Mạnh Huy đã góp phần làm rõ hơn các yêu cầu đặt ra trong quá trình hoàn thiện dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, hướng đến xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, tạo nền tảng thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp trong các giao dịch trên môi trường điện tử.