Chi tiết tin

Quốc hội thảo luận tại Tổ đối với các dự án Luật Phá sản (sửa đổi), Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi), Luật Báo chí (sửa đổi), Dự án Luật Dân số và Dự án Luật Phòng bệnh.

Người đăng: Admin ĐBND Ngày đăng: 8:17 | 24/10/2025 Lượt xem: 104

Ngày 23.10, Tổ thảo luận số 16 tiếp tục thảo luận tại Tổ đối với các dự án Luật Phá sản (sửa đổi), Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi), Luật Báo chí (sửa đổi), Dự án Luật Dân số và Dự án Luật Phòng bệnh theo chương trình Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV.

Quang cảnh thảo luận Tổ 16

Sửa đổi Luật Phá sản: xem xét thủ tục phục hồi để đảm bảo tính khả thi, hiệu quả.

Việc xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi) nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định còn vướng mắc, bất cập trong thực tiễn; tháo gỡ những điểm nghẽn trong giải quyết vụ việc phá sản; tạo hành lang pháp lý thuận lợi để doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh; tuyên bố phá sản và thanh lý kịp thời những doanh nghiệp, hợp tác xã không còn khả năng phục hồi; khơi thông nguồn lực, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, thúc đẩy kinh tế, xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh; góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Dự thảo Luật được thiết kế gồm 89 điều, 08 chương; trong đó, bổ sung mới 22 điều, sửa đổi, bổ sung 62 điều, giữ nguyên 05 điều.

Tham gia thảo luận tại Tổ về Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi), đại biểu Nguyễn Văn Quảng, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng cho rằng việc bổ sung thủ tục phục hồi là rất ý nghĩa nhưng khả năng thực tế để làm được điều này hay không thì cần xem xét. Bởi vì, doanh nghiệp khi yêu cầu thủ tục phá sản, mất khả năng trả nợ mà sử dụng ngân sách của nhà nước để phục hồi thì cần đánh giá về tính khả thi và hiệu quả kinh tế cũng như hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động này. 

Đại biểu Nguyễn Văn Quảng, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng phát biểu thảo luận

Về kinh phí chi trả cho các hoạt động phục hồi và phá sản, trong dự thảo luật quy định gồm kinh phí phục hồi và kinh phí phá sản. Theo đại biểu, đây là nội dung không phù hợp, bởi vì kinh phí phục hồi khác với kinh phí để làm thủ tục phá sản. Doanh nghiệp trong khi chờ thủ tục phá sản lại cần có kinh phí để duy tu bảo dưỡng, đảm bảo cho tài sản không bị hỏng hóc, không bị xuống cấp và không bị mất giá trị là chưa phù hợp.

Đại biểu đề xuất cần có trình tự thủ tục đặc biệt khi cơ quan có thẩm quyền xác định doanh nghiệp không có khả năng phục hồi được thì phải chuyển sang thủ tục rút gọn để làm thủ tục phá sản, có như vậy mới đảm bảo được thời gian và giảm được chi phí.

Dự án Luật Phòng bệnh: Cần thể chế hóa Nghị quyết của Bộ Chính trị về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân

Tham gia phát biểu tại Tổ, đại biểu Nguyễn Duy Minh, Phó trưởng đoàn Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng cho rằng dự án Luật Phòng bệnh là một dự án luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thể chế hóa Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về “một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân” (Nghị quyết 72-NQ/TW). Nghị quyết 72-NQ/TW khẳng định chuyển mạnh từ tư duy tập trung khám, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe toàn diện, liên tục theo vòng đời; củng cố, nâng cao năng lực y tế cơ sở và y tế dự phòng.

Đại biểu Nguyễn Duy Minh, Phó trưởng đoàn Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng phát biểu thảo luận tại Tổ

Theo đại biểu, Nghị quyết 72-NQ/TW yêu cầu “người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần, được lập sổ sức khỏe điện tử để quản lý sức khỏe theo vòng đời.” Nhưng dự án Luật chưa quy định quyền này, chưa xác định hồ sơ sức khỏe điện tử là công cụ quản lý bắt buộc. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung thêm một khoản tại Điều 3 quy định “Nhà nước bảo đảm quyền được khám sức khỏe định kỳ hoặc sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần; tổ chức lập và quản lý hồ sơ sức khỏe điện tử toàn dân”. Đồng thời sửa khoản 2 Điều 4 thành “Công tác phòng bệnh được thực hiện thường xuyên, liên tục, chuyển mạnh từ tư duy tập trung khám bệnh, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe toàn diện”.

Cũng theo đại biểu Nguyễn Duy Minh thì Nghị quyết 72-NQ/TW nêu rõ “Tăng cường phòng, chống bệnh không lây nhiễm; quản lý sức khỏe người dân tại y tế cơ sở; bảo đảm Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả cho sàng lọc, quản lý bệnh mạn tính”. Dự án luật quy định tại các Điều 27, Điều 29 còn khái quát, chưa rõ cơ chế tài chính cho sàng lọc và quản lý bệnh mạn tính. Ví dụ: có địa phương trước đây, chương trình sàng lọc tăng huyết áp triển khai ở 100% xã, nhưng dừng lại do BHYT không chi trả. Do vậy, đại biểu đề nghị sửa khoản 2 Điều 29 thành “Người có nguy cơ cao mắc bệnh không lây nhiễm được khám sàng lọc, phát hiện sớm, điều trị dự phòng và quản lý sức khỏe định kỳ tại tuyến y tế cơ sở”. Và bổ sung khoản 4 quy định “Chi phí khám sàng lọc, quản lý bệnh mạn tính được chi trả từ Quỹ BHYT theo hướng dẫn của Bộ Y tế”.

Đại biểu cho rằng dự án Luật chưa xác định nhóm nguy cơ, thiếu quy định về tư vấn cộng đồng. Đại biểu đề nghị sửa khoản 2 Điều 30 thành “Những người thuộc nhóm nguy cơ cao mắc rối loạn sức khỏe tâm thần bao gồm học sinh, sinh viên, phụ nữ mang thai và sau sinh, người bị sang chấn tâm lý, người sử dụng chất kích thích, người cao tuổi sống đơn thân”. Đồng thời bổ sung khoản 4 Điều 31 quy định “Cơ quan y tế và chính quyền địa phương tổ chức dịch vụ tư vấn, hỗ trợ sức khỏe tâm thần tại cộng đồng, cơ sở giáo dục, khu công nghiệp và nơi làm việc”.

Về dinh dưỡng trong phòng bệnh tại Điều 33, dự án Luật mới giới hạn đối tượng ở vùng khó khăn, thiếu cơ chế tài chính cụ thể. Đề nghị sửa khoản 1 điều này thành “Phụ nữ có thai, phụ nữ sau sinh, trẻ em, thanh niên, người cao tuổi, người lao động và người mắc bệnh mạn tính được bảo đảm dinh dưỡng hợp lý để phòng bệnh. Nhà nước hỗ trợ bổ sung vi chất cho phụ nữ và trẻ em có nguy cơ cao; khuyến khích phát triển hệ thống Ngân hàng sữa mẹ”; bổ sung khoản 5 quy định “Chính phủ quy định chi tiết phạm vi, nguồn kinh phí và cơ chế thực hiện chính sách dinh dưỡng trong phòng bệnh”.

Dự án Luật Dân số: cần quy định các chính sách bền vững, dài hạn, gắn với các quyền cơ bản của trẻ em và phụ nữ

Dự án Luật Dân số, mục đích là tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; tham khảo kinh nghiệm pháp luật quốc tế và một số quốc gia trên thế giới bảo đảm phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Tham gia phát biểu thảo luận, đại biểu Đặng Thị Bảo Trinh, đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng bày tỏ sự đồng tình với các báo cáo thẩm tra của Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đã có những đánh giá sâu sắc, bám sát thực tiễn.

Đại biểu Đặng Thị Bảo Trinh, đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng phát biểu thảo luận Luật Dân số

Đại biểu cho rằng, Điều 13 về duy trì mức sinh thay thế của dự thảo Luật. Đây là một nội dung đặc biệt quan trọng, bởi duy trì mức sinh hợp lý chính là bảo đảm tương lai dân số và sức sống phát triển của đất nước. Dự thảo Luật đã thể chế hóa một số nội dung của Kết luận số 149-KL/TW ngày 15/7/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số. Nhưng các biện pháp duy trì mức sinh thay thế chỉ mới dừng ở tính ngắn hạn và mang nặng tính khuyến khích về tài chính, trong khi nguyên nhân gốc rễ của mức sinh thấp hiện nay, đó chính là nỗi lo của người dân về ổn định việc làm, nhà ở, giáo dục và thời gian chăm sóc con cái. Do vậy dự án Luật cần quy định các chính sách bền vững, dài hạn, gắn với các quyền cơ bản của trẻ em và phụ nữ, đây mới là những biện pháp thực chất để người dân “yên tâm sinh đủ hai con” như tinh thần của Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Bên cạnh đó, dự án Luật có đề xuất tăng thời gian nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai, đại biểu đề nghị cần đánh giá tác động kỹ lưỡng để tránh hệ quả khiến doanh nghiệp e ngại khi tuyển dụng lao động nữ. Nếu chỉ tăng quyền lợi mà không có chính sách bù đắp cho người sử dụng lao động, thì vô hình dung phụ nữ sẽ là người chịu thiệt thòi trong tuyển dụng. Do đó, kiến nghị nghiên cứu cơ chế hỗ trợ từ Quỹ Bảo hiểm xã hội hoặc ngân sách Nhà nước cho doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, để bảo đảm hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp - người lao động - Nhà nước.
Về chính sách nhà ở xã hội, đại biểu hoàn toàn đồng tình với ý kiến của Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội về chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội cho gia đình có hai con đó là cần được quy định rõ, minh bạch và linh hoạt. Không nên quy định cứng “có hai con” là điều kiện duy nhất, mà nên giao Chính phủ điều chỉnh đối tượng ưu tiên theo từng giai đoạn và vùng dân số để đảm bảo, phù hợp với thực tiễn.

Về quản lý, giám sát và dự báo dân số, đại biểu tán thành đề xuất tại báo cáo thẩm tra dự án Luật về việc bổ sung quy định giao Chính phủ định kỳ công bố tình trạng mức sinh trên toàn quốc và từng địa phương. Bởi vì, đây là quy định rất cần thiết, chỉ khi có biểu đồ dân số được cập nhật theo quý, theo năm thì chính quyền địa phương mới có căn cứ điều để điều chỉnh chính sách linh hoạt, tránh tình trạng chung chung. Đồng thời, đề nghị cần bổ sung quy định hỗ trợ điều trị vô sinh, hiếm muộn, đây là một trong những nguyên nhân âm thầm nhưng ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại ngày nay. Đó cũng là 1 biện pháp để chúng ta đạt được mục tiêu duy trì mức sinh thay thế bền vững.

Hồng Châu - Văn Thước (Phòng Công tác Quốc hội)

Tác giả: Hồng Châu - Văn Thước

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Thông tin - Thông báo