Đại biểu Nguyễn Duy Minh phát biểu thảo luận ở hội trường. Ảnh V.H.
Đại biểu Minh thống nhất với Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật, đồng thời tham gia góp ý một số nội dung quan trọng.
Thứ nhất, theo đại biểu quy định tại khoản 4 Điều 4 về thu nhập miễn thuế đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển là một bước tiến tích cực trong việc khuyến khích đầu tư hoạt động này. Tuy nhiên, thời gian miễn thuế tối đa không quá 03 năm là quá ngắn so với chu kỳ đầu tư và phát triển công nghệ, chưa đủ sức tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào hoạt động nghiên cứu và phát triển. Thực tế, nhiều dự án nghiên cứu và phát triển, đặc biệt là trong các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, công nghệ cao, vi mạch bán dẫn… cần từ 05 đến 10 năm để hoàn thiện và thương mại hóa. Vì vậy, đại biểu đề nghị cần quy định theo hướng “Thu nhập tại khoản này được miễn thuế tối đa không quá 5 năm”. Đồng thời, đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu thể chế kịp thời các chủ trương về miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp tại Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị. Xem xét mở rộng đối tượng được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản thu nhập từ chuyển nhượng phần góp vốn, quyền góp vốn vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; các dự án nghiên cứu tự triển khai của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, theo đại biểu dự thảo Luật chưa có các ưu đãi thuế đặc thù dành riêng cho ngành công nghiệp xanh và bền vững. Khoản 10 Điều 4 quy định miễn thuế cho thu nhập từ chuyển nhượng tín chỉ carbon và trái phiếu xanh, nhưng đây chỉ là một phần rất nhỏ trong toàn bộ hoạt động công nghiệp xanh. Các lĩnh vực quan trọng như năng lượng tái tạo, quản lý chất thải, sản xuất bền vững chưa hề được đề cập đến. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 4 quy định về việc các doanh nghiệp đầu tư vào năng lượng tái tạo, quản lý chất thải, sản xuất bền vững và các công nghệ thân thiện với môi trường được hưởng ưu đãi.
Thứ hai, khoản 1 Điều 9 của dự thảo Luật quy định các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, bao gồm các chi phí thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng quy định này chưa làm rõ một số loại chi phí đặc thù mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là doanh nghiệp mới thành lập, thường phải đối mặt trong giai đoạn đầu tư ban đầu. Cụ thể, các khoản chi phí như nghiên cứu thị trường, xây dựng thương hiệu, đào tạo nhân sự. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 9 của dự thảo Luật nội dung quy định “Các khoản chi phí phát sinh từ hoạt động nghiên cứu thị trường, xây dựng thương hiệu và đào tạo nhân sự cho doanh nghiệp mới thành lập được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế”.
Thứ ba, theo quy định tại Điều 10 thì thuế thu nhập doanh nghiệp được áp dụng dựa trên doanh thu. Đại biểu cho rằng, cách tiếp cận dựa trên doanh thu là chưa thực sự công bằng và không phù hợp với tình hình thực tế của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp, các doanh nghiệp công nghệ cao. Đối với các doanh nghiệp này, doanh thu chưa ổn định vì phần lớn doanh nghiệp này thường phải chịu lỗ trong những năm đầu do chi phí đầu tư lớn và phải đối mặt với nhiều khó khăn về vốn, thị trường và quản lý. Việc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho đến khi đạt ngưỡng lợi nhuận tối thiểu giúp giảm bớt áp lực tài chính, cho phép họ tập trung nguồn lực vào phát triển sản phẩm, dịch vụ và mở rộng thị trường. Đến khi doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khởi nghiệp và bắt đầu có lợi nhuận cao hơn, họ sẽ đóng góp đáng kể vào ngân sách thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác. Do đó, đại biểu đề nghị sửa đổi theo hướng áp dụng thuế suất dựa trên lợi nhuận và bổ sung vào Điều 14 về miễn thuế, giảm thuế quy định “Doanh nghiệp được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho đến khi đạt ngưỡng lợi nhuận trước thuế tối thiểu là 01 tỷ đồng. Thời gian miễn thuế không được vượt quá 03 năm kể từ khi thành lập, trừ các ngành nghề ưu tiên theo quy định của Chính phủ. Đồng thời, kéo dài thời gian miễn thuế và bổ sung vào Điều 14 quy định “Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời hạn tối đa 05 năm đầu kể từ năm đầu tiên có lợi nhuận đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp thuộc lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp sáng tạo và các ngành ưu tiên theo quy định của Chính phủ”.
Cuối cùng, về thời điểm có hiệu lực của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, đại biểu đề nghị cần phải điều chỉnh theo hướng sớm hơn, cụ thể luật có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2025, thay vì ngày 01/01/2026 như dự thảo để có thể sớm triển khai, giải quyết các vấn đề, chủ trương đã nêu tại Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị.
VŨ HƯNG