Song song với đó, các sản phẩm du lịch mới như: Lễ hội Mặt Trời tại Bà Nà Hills, các chương trình trải nghiệm tại khu du lịch suối khoáng nóng, cùng việc mở thêm các đường bay quốc tế đến Bali (Indonesia), Manila (Philippines), Viêng Chăn (Lào) và đường bay nội địa Phú Quốc đã tạo thêm sức hấp dẫn cho điểm đến Đà Nẵng. Nhờ đó, lượng khách du lịch tiếp tục tăng trưởng mạnh. Sáu tháng đầu năm 2026, các cơ sở lưu trú trên địa bàn phục vụ gần 9,8 triệu lượt khách, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khách quốc tế đạt gần 5,2 triệu lượt, tăng 28,7%, chiếm hơn một nửa tổng lượng khách lưu trú. Khách nội địa đạt trên 4,6 triệu lượt, tăng 16,2%. Doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt hơn 36,2 nghìn tỷ đồng, tăng trên 19%, tiếp tục đóng góp tích cực vào tăng trưởng GRDP của thành phố.

Nghi lễ Tạ ơn rừng của người Cơ Tu, Ảnh Báo Đà Nẵng.
Tuy nhiên, nhìn vào bức tranh chung có thể thấy các hoạt động du lịch của Đà Nẵng vẫn chủ yếu tập trung ở khu vực trung tâm, ven biển và phía Đông. Trong khi đó, khu vực miền núi phía Tây - nơi sở hữu hệ sinh thái rừng nguyên sinh, sông suối, thác nước cùng kho tàng văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số - vẫn chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng.
"Kho báu" của du lịch thành phố Đà Nẵng
Sau khi hợp nhất địa giới hành chính với tỉnh Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng mới không chỉ mở rộng không gian phát triển mà còn trở thành địa phương hiếm hoi hội tụ đầy đủ hệ sinh thái từ biển, đảo, đồng bằng đến miền núi. Đây là lợi thế đặc biệt để hình thành hệ sinh thái du lịch đa dạng mà không nhiều địa phương nào có được. Khu vực phía Tây hiện có 37 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, với khoảng 164 nghìn đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Nơi đây còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc Cơ Tu, Giẻ Triêng, Cor, Ca Dong, Xơ Đăng, Co,... cùng với các lễ hội truyền thống, nghệ thuật cồng chiêng, kiến trúc nhà Gươl, nghề dệt thổ cẩm, đan lát, điêu khắc gỗ, ẩm thực bản địa và kho tàng tri thức về rừng, cây dược liệu,….
Trong bối cảnh xu hướng du lịch thế giới đang chuyển từ tham quan đơn thuần sang trải nghiệm thiên nhiên, văn hóa bản địa và du lịch chữa lành, những lợi thế này hoàn toàn có thể trở thành nền tảng để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, trekking, camping hay khám phá đa dạng sinh học. Đồng thời, việc mở rộng không gian du lịch về phía Tây sẽ góp phần điều tiết dòng khách, giảm áp lực lên khu vực ven biển, đa dạng hóa sản phẩm và kéo dài thời gian lưu trú của du khách đến thành phố.
Tiềm năng vẫn đang "ngủ quên"
Dù sở hữu nhiều lợi thế, song hoạt động du lịch miền núi hiện vẫn phát triển khá chậm. Thực tế cho thấy, việc quảng bá thời gian qua chủ yếu tập trung vào sâm Ngọc Linh và một số sản phẩm OCOP, trong khi nhiều giá trị văn hóa như: lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, làng nghề, âm nhạc dân gian, nghệ thuật cồng chiêng hay đời sống cộng đồng vẫn chưa được chuyển hóa thành sản phẩm du lịch có sức hút. Nhiều mô hình du lịch cộng đồng còn mang tính tự phát, quy mô nhỏ. Người dân chủ yếu cung cấp một vài dịch vụ đơn lẻ như: ăn uống, bán hàng lưu niệm hoặc lưu trú, chưa tham gia nhiều vào chuỗi giá trị du lịch từ thiết kế sản phẩm, tổ chức trải nghiệm đến quảng bá và tiêu thụ sản phẩm địa phương…
Hạ tầng cũng là một trong những điểm nghẽn lớn nhất, một số tuyến đường kết nối đến các điểm du lịch còn nhỏ hẹp, xuống cấp như: Quốc lộ 14B, 14D, 14G, các tuyến kết nối hành lang Đông - Tây, các tuyến liên xã,… ; hệ thống điện, nước, viễn thông và hạ tầng số ở một số địa bàn chưa đáp ứng yêu cầu. Nhiều điểm đến thiếu bãi đỗ xe, biển chỉ dẫn, nhà vệ sinh công cộng, trung tâm thông tin hay cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn. Một hạn chế khác là sản phẩm giữa các địa phương còn thiếu sự khác biệt. Không ít nơi đều khai thác nhà Gươl, cồng chiêng, thổ cẩm hay ẩm thực truyền thống nhưng chưa xây dựng được câu chuyện riêng, khiến du khách khó có động lực cảm nhận sâu hơi thở của sản phẩm hoặc lưu trú dài ngày. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực làm du lịch cộng đồng còn hạn chế về kỹ năng quản trị, ngoại ngữ, marketing, ứng dụng công nghệ số,… Ngoài ra, thành phố cũng chưa hình thành được thương hiệu chung cho du lịch văn hóa miền núi, khiến công tác quảng bá còn phân tán chủ đề.

Đường Hồ Chí Minh, tuyến giao thông quan trọng kết nối với vùng du lịch phía Tây thành phố. Ảnh: Minh Sơn.
Để đánh thức tiềm năng du lịch của khu vực miền núi phía Tây thành phố, trước hết cần xây dựng chiến lược tổng thể phát triển du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng gắn với quy hoạch phát triển du lịch của thành phố. Trên cơ sở đó, xác định rõ các vùng bảo tồn, các cụm, tuyến và sản phẩm du lịch trọng điểm để tránh đầu tư dàn trải. Cùng với quy hoạch, thành phố cần ưu tiên đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông, điện, nước, viễn thông và hạ tầng số; hình thành các tuyến kết nối thuận lợi giữa trung tâm thành phố với các vùng sinh thái, văn hóa phía Tây. Việc phát triển hạ tầng phải hài hòa với yêu cầu bảo tồn thiên nhiên, hạn chế tối đa tác động đến hệ sinh thái rừng.
Có chính sách hỗ trợ đủ mạnh để phục dựng, bảo tồn các loại hình văn hóa như: lễ hội mừng lúa mới để tạ ơn thần lúa của đồng bào Ca Dong, Tà Riềng,… nghề thủ công truyền thống dệt thổ cẩm, đan lát mây tre của người Cơ Tu, Bhơnoong,… song song với đó cần duy trì thường xuyên các lễ hội truyền thống, xây dựng các sự kiện văn hóa, thể thao và lễ hội theo mùa tại khu vực miền núi thay vì chỉ tập trung ở khu vực ven biển. Đây sẽ là cơ sở để hình thành các sản phẩm du lịch có chiều sâu văn hóa và tạo sức hút quanh năm. Ngoài ra, cần phát triển các sản phẩm du lịch đặc trưng gắn với núi rừng như: dược liệu, nông nghiệp sinh thái, làng nghề, ẩm thực và đời sống cộng đồng. Mỗi địa phương cần có sản phẩm riêng, tránh tình trạng "địa phương nào cũng giống địa phương nào". Hùng Sơn, Tây Giang có thể phát huy giá trị rừng Pơ mu và văn hóa Cơ Tu; Nam Trà My gắn với sâm Ngọc Linh và dược liệu; Đông Giang khai thác hệ thống hang động, thác nước; Tiên Phước phát triển du lịch làng cổ, nhà vườn...
Đặc biệt, cần thống nhất quan điểm phát triển du lịch cộng đồng theo hướng lấy người dân làm chủ thể và là đối tượng hưởng lợi trực tiếp từ hoạt động du lịch, dịch vụ. Theo đó, thay vì chỉ tham gia cung cấp các dịch vụ đơn lẻ, người dân cần được hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn, đào tạo kỹ năng quản trị, ngoại ngữ, chuyển đổi số, xây dựng sản phẩm và kết nối thị trường để có thể trực tiếp vận hành homestay, làm hướng dẫn viên, tổ chức các hoạt động trải nghiệm, tiêu thụ sản phẩm OCOP, phát triển dịch vụ ẩm thực địa phương,... Một khi bài toán kinh tế được đặt lên hàng đầu, sinh kế được cải thiện từ chính những giá trị văn hóa và tài nguyên bản địa, người dân sẽ có thêm động lực gìn giữ rừng, bảo tồn bản sắc văn hóa, khôi phục các nghề truyền thống và trở thành lực lượng nòng cốt trong phát triển du lịch bền vững. Bên cạnh đó, cần tăng cường liên kết giữa chính quyền, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng để hình thành chuỗi giá trị du lịch, dịch vụ hoàn chỉnh; đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu số, bản đồ số, hệ thống đặt dịch vụ trực tuyến và đẩy mạnh quảng bá trên các nền tảng số. Về lâu dài, thành phố cần nghiên cứu ban hành Đề án phát triển du lịch văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2026–2035 gắn với hình thành các cụm không gian văn hóa. Song song với đó, cần nghiên cứu xây dựng thương hiệu "Sắc màu văn hóa miền núi – nơi hội tụ tinh hoa Đà Nẵng" gắn với hình ảnh đại ngàn, bản làng và văn hóa các dân tộc nhằm tạo dấu ấn riêng cho các điểm đến, bổ sung hoàn chỉnh bức tranh du lịch của thành phố thời gian đến.