Chi tiết tin

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách để đẩy mạnh công tác khuyến nông

Người đăng: Admin ĐBND Ngày đăng: 15:53 | 10/02/2026 Lượt xem: 224

Ủy ban nhân dân thành phố có Tờ trình số 01/TTr-UBND ngày 07/01/2026 về xử lý kết quả rà soát Nghị quyết số 05/2020/NQ-HĐND ngày 15/7/2020 của HĐND tỉnh Quảng Nam và Nghị quyết số 305/2020/NQ-HĐND ngày 08/7/2020 của HĐND thành phố Đà Nẵng (cũ), đề nghị xây dựng Nghị quyết quy định nội dung và mức chi hỗ trợ cho các hoạt động khuyến nông từ nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Mô hình chuyên canh rau màu của nông dân thôn Phú Phước, xã Đại Lộc. Ảnh: Báo Đà Nẵng

Có thể nói đây là nghị quyết rất quan trọng nhằm thực hiện thống nhất, đồng bộ chính sách hỗ trợ các hoạt động khuyến nông trên địa bàn thành phố sau hợp nhất nhằm tiếp tục hỗ trợ, tạo động lực cho Chương trình khuyến nông giai đoạn 2026 - 2030 phát triển có chiều sâu, góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn và miền núi, hiện đại hóa ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn bền vững.

Giai đoạn 2023-2025, ngành nông nghiệp thành phố Đà Nẵng đạt nhiều kết quả quan trọng, duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định và ngày càng khẳng định vai trò trong phát triển kinh tế – xã hội. Hệ thống khuyến nông đã phát huy hiệu quả vai trò cầu nối, kịp thời đưa chủ trương, định hướng của ngành nông nghiệp vào thực tiễn sản xuất; thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, hình thành các mô hình sản xuất hiệu quả và cải thiện thu nhập của nông dân. Những kết quả này không chỉ khẳng định sự nỗ lực của toàn ngành mà còn tạo nền tảng vững chắc để triển khai công tác khuyến nông trong giai đoạn tiếp theo, đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững. Tổng kinh phí triển khai Chương trình khuyến nông trên địa bàn thành phố là 25,03 tỷ đồng, trong đó lĩnh vực trồng trọt có 46 mô hình, lĩnh vực lâm nghiệp có 17 mô hình, chăn nuôi 24 mô hình, thủy sản 21 mô hình,…Tăng trưởng VA khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2025 ước tính đạt 3,27%, đóng góp 0,21 điểm phần trăm trong mức tăng GRDP chung của thành phố. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 3,38%, chủ yếu nhờ hoạt động trồng trọt và chăn nuôi duy trì ổn định, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và mô hình nông nghiệp công nghệ cao ngày càng được mở rộng. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm trên địa bàn thành phố sau hợp nhất năm 2025 ước đạt 150,2 nghìn ha, năng suất bình quân ước đạt 58,4 tạ/ha. Một số cây trồng hàng năm khác được duy trì tăng trưởng về năng suất và sản lượng, phản ánh hiệu quả của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp điều kiện thời tiết và thị trường tiêu thụ.
Để đạt được mức tăng trưởng của khu vực nông, lâm – thủy sản từ 6 -6,5% trong năm 2026 theo Nghị quyết số 43/NQ-HĐND ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố, chính sách cho công tác khuyến nông xem xét hướng tới 03 mục tiêu (1) Giúp nông dân tăng năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm, (2) Giảm chi phí sản xuất, hạn chế rủi ro dịch bệnh, thiên tai, (3) Hỗ trợ nông dân chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa. 

Tiếp cận xây dựng chính sách khuyến nông trong tình hình mới

Nhằm hiện thực hóa các mục tiêu nêu trên, chính sách khuyến nông trên địa bàn thành phố cần được xây dựng theo hướng đồng bộ, lồng ghép chặt chẽ với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, đẩy mạnh chuyển đổi số và thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững. Qua đó, hình thành hệ thống khuyến nông hoạt động hiệu quả, có sự liên kết thống nhất từ thành phố đến cấp xã, hỗ trợ nông dân tiếp cận khoa học – công nghệ, phát triển các mô hình sản xuất xanh, thông minh, gắn với thị trường, góp phần xây dựng nông thôn mới một cách thực chất và hiệu quả.
Theo Nghị quyết 05/2020/NQ-HĐND ngày 15/7/2020 của HĐND tỉnh Quảng Nam thì hỗ trợ tối đa 100% chi phí về hỗ trợ giống, thiết bị, vật tư thiết yếu để xây dựng mô hình trình diễn ở địa bàn khó khăn, huyện nghèo trước đây nhưng không quá 300 triệu đồng/mô hình đối với mô hình do cấp tỉnh phê duyệt, không quá 200 triệu đồng/mô hình đối với cấp huyện phê duyệt. Đối với xây dựng mô hình trình diễn ở địa bàn trung du, miền núi, bãi ngang thì hỗ trợ tối đa 70% chi phí nhưng không quá 250 triệu đồng/mô hình đối với mô hình do cấp tỉnh phê duyệt và không quá 150 triệu đồng/mô hình đối với mô hình do cấp huyện phê duyệt. Còn đối với xây dựng mô hình trình diễn ở địa bàn đồng bằng thì hỗ trợ tối đa 50% chi phí nhưng không quá 200 triệu đồng/mô hình đối với mô hình do cấp tỉnh phê duyệt, không quá 100 triệu đồng/mô hình đối với mô hình do cấp huyện phê duyệt. Theo Nghị quyết số 305/2020/NQ-HĐND ngày của HĐND thành phố Đà Nẵng (cũ) thì mức hỗ trợ thực hiện quy định tại Điều 29, Nghị định số 83/2018/NĐ-CP của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, không quy định “cận dưới” như tỉnh Quảng Nam. Do đó, việc xây dựng Nghị quyết hợp nhất lần này quan tâm đến việc nên hay không nên quy định “cận dưới” trong hỗ trợ xây dựng và nhân rộng mô hình, nhất là trong thời điểm thành phố đang hướng tới đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đồng thời tránh xây dựng mô hình quá nhỏ, chưa đủ quy mô và sức thuyết phục để trình diễn, học tập và nhân rộng.
Cách tiếp cận đi từ xây dựng “mô hình trình diễn” là hướng truyền thông mang tính trực tiếp để người dân nhìn thấy được phương thức sản xuất trực quan sinh động, tuy vậy khâu thiết kế chính sách này phải hướng tới kinh tế trong nông nghiệp thay vì sản xuất nông nghiệp đơn thuần, từ tư duy sản xuất nhỏ lẻ, tự phát sang sản xuất hàng hóa theo hướng liên kết chuỗi giá trị, gắn với thị trường và nhu cầu của người tiêu dùng. Thực tiễn cho thấy, việc hỗ trợ giống, thiết bị, vật tư thiết yếu mới chỉ giải quyết phần đầu vào của sản xuất nông nghiệp, cái mà người nông dân quan tâm và cần thiết hơn là đầu ra của sản phẩm, giá cả tiêu thụ có ổn định hay không, rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ được chia sẻ như thế nào,...Đây là nỗi lo thường trực của người nông dân, bởi nó quyết định sự thành bại của việc sản xuất nông nghiệp, giúp người nông dân mới thoát cảnh "được mùa, mất giá", yên tâm sản xuất và làm giàu. Chỉ khi những yếu tố này được giải quyết đồng bộ thì người nông dân mới yên tâm đầu tư sản xuất, mô hình khuyến nông được xây dựng mới thực sự hiệu quả và có sức thuyết phục trong sinh kế người dân. Ngoài ra, nghiên cứu thêm về chính sách hỗ trợ phát triển các mô hình trình diễn nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp số,… nhằm giúp người dân tiếp cận, triển khai vào sản xuất để nâng cao chuỗi giá trị, song song với đó, người dân cần được tham gia nhiều hơn các lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và quy trình sản xuất an toàn như: VietGAP, GlobalGAP, nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, canh tác thông minh, giảm sử dụng hóa chất, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường thích ứng biến đổi khí hậu,... nhằm giúp giảm chi phí, tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm, khuyến khích người dân sử dụng tài nguyên hợp lý, phát triển nông nghiệp xanh, an toàn và bền vững trong dài hạn. Song song với đó, cơ chế và chính sách hỗ trợ đối với Tổ khuyến nông cộng đồng cũng là thành tố quan trọng cần được đặt ra nhằm tạo kênh trực tiếp đưa tiến bộ kỹ thuật, chủ trương và chính sách nông nghiệp đến với nông dân ở cơ sở, phát huy vai trò “cầu nối” giữa cơ quan chuyên môn và nông dân. Bên cạnh đó, thực tiễn trong sản xuất nông nghiệp hiện nay cũng cho thấy, thời gian chờ thu mua sau thu hoạch là giai đoạn nhạy cảm, dễ phát sinh rủi ro, vì vậy, nghiên cứu chính sách hỗ trợ công nghệ bảo quản sau thu hoạch là rất cần thiết đối với người nông dân nhằm tránh hao hụt sản lượng, giữ ổn định chất lượng, mẫu mã sản phẩm, kéo dài thời gian bảo quản, tăng khả năng chủ động cho người nông dân khi tham gia liên kết tiêu thụ, tránh bị ép giá do nông sản không bảo quản được lâu, nhất là đối với các mặt hàng rau quả, nông sản tươi sống,…
Xây dựng mối liên kết theo mô hình “4 nhà” (Nhà nước – Nhà nông – Nhà khoa học – Doanh nghiệp), trong đó Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, định hướng và dẫn dắt nhằm hình thành các mắc xích bền vững trong chuỗi liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ nông sản. Thông qua hợp đồng liên kết, bao tiêu sản phẩm, doanh nghiệp đầu tư giống, vật tư, công nghệ, tổ chức chế biến và phát triển thị trường tiêu thụ; Nhà khoa học tham gia nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, quy trình sản xuất tiên tiến; nông dân tổ chức sản xuất theo quy hoạch, tiêu chuẩn và yêu cầu của thị trường. Qua đó, từng bước khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, tự phát, nâng cao hiệu quả kinh tế, chất lượng sản phẩm và thu nhập cho người dân. Có như vậy, chính sách khuyến nông trong tình hình mới thực sự đi vào cuộc sống, không chỉ dừng ở chủ trương mà trở thành động lực thiết thực, lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống Nhân dân.

Tác giả: Minh Sơn

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Thông tin - Thông báo