Chi tiết tin

Từ nguồn lực đến động lực tăng trưởng

Người đăng: Tổng Biên tập Ngày đăng: 14:13 | 09/10/2026 Lượt xem: 82

Chín tháng năm 2026, GRDP Đà Nẵng tăng 10,31%, xếp thứ 9/34 địa phương cả nước; quy mô GRDP theo giá hiện hành đạt khoảng 264,6 nghìn tỷ đồng. Dịch vụ tăng 10,55%, đóng góp 5,57 điểm phần trăm vào tăng trưởng; công nghiệp - xây dựng tăng 11,43%; nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,42%. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt hơn 88 nghìn tỷ đồng, tăng 42,25% so với cùng kỳ. Để đạt mục tiêu cả năm 11,22%, quý IV phải tăng khoảng 13,61%. Vì vậy, câu hỏi của giai đoạn tới không chỉ là cần thêm bao nhiêu vốn, đất hay dự án, mà là nguồn lực hiện có được chuyển hóa thành tăng trưởng nhanh và hiệu quả đến đâu.

 

Đà Nẵng hiện có tổ hợp nguồn lực đáng kể: không gian phát triển mới, đất đai, kết cấu hạ tầng, ngân sách, doanh nghiệp, nhân lực và các động lực mới như Trung tâm tài chính quốc tế, Khu thương mại tự do, cảng Liên Chiểu, logistics, công nghệ cao, bán dẫn và trí tuệ nhân tạo. Có nguồn lực chưa đồng nghĩa với có tăng trưởng; khoảng cách giữa hai trạng thái chính là bài toán quản trị cần tập trung.

 

Giảm “độ trễ chuyển hóa nguồn lực”

 

Đất đai là nguồn lực nhưng nếu còn vướng quy hoạch, giải phóng mặt bằng, nghĩa vụ tài chính hoặc thủ tục đầu tư thì chưa tạo được dự án, việc làm và nguồn thu. Tài sản công nếu để trống hoặc sử dụng kém hiệu quả không chỉ chưa tạo giá trị mà còn phát sinh chi phí quản lý. Thể chế cũng là nguồn lực: cơ chế đặc thù được triển khai nhanh có thể giải phóng lượng vốn xã hội lớn; ngược lại, cơ chế đã có nhưng chậm cụ thể hóa thì lợi thế thể chế chưa trở thành lợi thế cạnh tranh.

 

Cần đặc biệt quan tâm đến “độ trễ chuyển hóa nguồn lực”. Một dự án chậm một năm không chỉ là chậm tiến độ mà còn làm thành phố mất một năm sản xuất, kinh doanh, việc làm, nguồn thu và các hoạt động kinh tế có thể hình thành xung quanh dự án. Đây là chi phí cơ hội lớn nhưng thường không xuất hiện trong quyết toán ngân sách. Việc thành phố đã hoàn thành xử lý 206 dự án thuộc diện rà soát theo cơ chế, chính sách đặc thù cần được nhìn như việc đưa nguồn lực đang bị “đóng băng” trở lại nền kinh tế.

 

Đến hết ngày 07/10/2026, Đà Nẵng giải ngân 14.442,245 tỷ đồng, đạt 72,25% kế hoạch 17.191,915 tỷ đồng được Thủ tướng Chính phủ giao. Trong tổng giá trị giải ngân, thanh toán khối lượng hoàn thành đạt 9.259,063 tỷ đồng, chiếm 64,11%; tạm ứng 5.183,182 tỷ đồng, chiếm 35,89%. Tỷ lệ giải ngân là chỉ báo quan trọng nhưng không nên là thước đo duy nhất của đầu tư công.

 

 

Sau câu hỏi “đã giải ngân bao nhiêu?” cần có câu hỏi “đồng vốn đó đã tạo ra cái gì?”. Một tuyến đường mở thêm bao nhiêu không gian phát triển? Một công trình hạ tầng kích hoạt thêm bao nhiêu vốn doanh nghiệp? Một dự án hoàn thành giảm được bao nhiêu chi phí logistics, thời gian đi lại hoặc chi phí xã hội? Chuỗi giám sát cần kéo dài từ bố trí vốn, giải ngân, khối lượng hoàn thành đến tài sản hình thành, mức độ khai thác và tác động phát triển.

 

Chất lượng tăng trưởng cuối cùng phải phản ánh qua năng suất. Trong điều kiện đất đai, ngân sách và lao động đều có giới hạn, thành phố không thể chỉ dựa vào mở rộng quy mô đầu tư. Hiệu quả vốn, năng suất lao động, hàm lượng công nghệ, đổi mới sáng tạo và mức độ tham gia của khu vực doanh nghiệp tư nhân cần trở thành các chỉ báo quan trọng bên cạnh tốc độ tăng GRDP.

 

Vốn công phải có khả năng dẫn dắt nguồn lực xã hội

 

Chín tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt hơn 88 nghìn tỷ đồng, trong khi kế hoạch đầu tư công ngân sách nhà nước do Thủ tướng giao khoảng 17,19 nghìn tỷ đồng. Hai chỉ tiêu có phạm vi và phương pháp thống kê khác nhau nên không thể so sánh cơ học, nhưng cho thấy ngân sách chỉ là một bộ phận trong tổng nguồn lực đầu tư của nền kinh tế.

 

Ngân sách nhà nước không thể và cũng không nên làm tất cả. Nhà nước cần đầu tư toàn bộ đối với những công trình bảo đảm lợi ích công cộng; ở những lĩnh vực khác, ngân sách nên tập trung giải quyết đúng điểm nghẽn như hạ tầng khung, kết nối giao thông, giải phóng mặt bằng hoặc hạ tầng dùng chung để kích hoạt lượng vốn xã hội lớn hơn. Vì vậy, cần quan tâm đến “hệ số dẫn dắt của vốn công”: một đồng vốn công có thể kích hoạt bao nhiêu nguồn lực xã hội và tạo thêm bao nhiêu năng lực phát triển.

 

Chuyển hóa nguồn lực phải tạo được nguồn lực mới

 

Có thể khái quát quá trình quản trị nguồn lực theo chu trình: giải phóng nguồn lực - huy động - phân bổ - chuyển hóa thành năng lực phát triển - tái tạo nguồn lực. Giải phóng là đưa đất đai, tài sản công, dự án tồn đọng trở lại nền kinh tế; huy động là kết hợp ngân sách, vốn doanh nghiệp, FDI, PPP và các nguồn lực hợp pháp khác; phân bổ là lựa chọn nơi tạo tác động và sức lan tỏa cao; chuyển hóa là biến vốn, đất đai, hạ tầng và thể chế thành doanh nghiệp, sản phẩm, việc làm, năng suất và GRDP.

 

Đến ngày 25/9/2026, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 69.157,8 tỷ đồng, tăng 71,4% so với cùng kỳ; thu nội địa chiếm 93,1% tổng thu. Kết quả tích cực này cũng cho thấy yêu cầu phải nhìn sâu hơn vào cơ cấu nguồn thu, trong đó có đóng góp đáng kể từ nhà, đất. Đất đai là nguồn lực quan trọng nhưng hữu hạn; hiệu quả sử dụng đất cần được đánh giá cả ở giá trị kinh tế trực tiếp và khả năng tạo sản xuất, việc làm, nguồn thu ổn định trong tương lai. Vòng tuần hoàn cần hướng tới là: nguồn lực tạo đầu tư; đầu tư tạo năng lực sản xuất; năng lực sản xuất tạo tăng trưởng; tăng trưởng mở rộng nguồn thu; nguồn thu tạo dư địa tài khóa để tiếp tục đầu tư. Bên cạnh đất đai, vốn và hạ tầng, nguồn lực con người là mắt xích trung tâm. Các động lực mới như tài chính quốc tế, công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và logistics chỉ có thể tạo giá trị bền vững nếu thành phố đồng thời giải quyết bài toán nhân lực chất lượng cao, năng lực quản trị doanh nghiệp, nghiên cứu - phát triển và liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo. Vì vậy, không chỉ cần “hạ tầng cứng” mà phải đầu tư tương xứng cho “hạ tầng mềm”.

 

Cơ cấu GRDP 9 tháng cho thấy dịch vụ chiếm 54,93%, công nghiệp - xây dựng chiếm 26,46%. Nếu chỉ lấy GRDP và khả năng tạo nguồn thu trực tiếp làm tiêu chí, nguồn lực có xu hướng tập trung vào đô thị, dịch vụ và công nghiệp. Tuy nhiên, dồn nguồn lực vào nơi tạo GRDP cao nhất chưa chắc là hiệu quả nếu xét trên toàn bộ không gian phát triển.

 

Đô thị cần phát huy vai trò cực tăng trưởng, tập trung tài chính, công nghệ, đổi mới sáng tạo và dịch vụ giá trị cao. Nông thôn cần kết nối mạnh hơn với đô thị qua chế biến, logistics, thương mại, nông nghiệp công nghệ, OCOP và du lịch. Miền núi không nên chỉ được nhìn như địa bàn thụ hưởng ngân sách; rừng, nguồn nước, dược liệu, Sâm Ngọc Linh, quế Trà My, đa dạng sinh học, văn hóa bản địa và du lịch sinh thái đều là tài sản phát triển, đồng thời là không gian bảo đảm an ninh sinh thái.

 

Hiệu quả kinh tế - ngân sách cần được đánh giá trong cả vòng đời và trên toàn không gian phát triển. Đồng thời, cần tránh để các động lực mới phát triển tách rời khu vực doanh nghiệp hiện hữu. Khi đánh giá một động lực tăng trưởng, nên quan tâm tỷ lệ doanh nghiệp địa phương tham gia chuỗi cung ứng, việc làm chất lượng cao, mức tăng năng suất và đóng góp vào cơ sở thu ngân sách bền vững.

 

Không để các động lực mới trở thành những “ốc đảo tăng trưởng”

 

Đà Nẵng đang hình thành nhiều động lực lớn: Trung tâm tài chính quốc tế, Khu thương mại tự do, cảng Liên Chiểu, logistics, công nghệ cao, AI, bán dẫn, du lịch và các không gian đô thị mới. Lợi thế không chỉ nằm ở số lượng động lực mà ở khả năng kết nối chúng. Trung tâm tài chính phải kết nối với doanh nghiệp và dòng vốn; Khu thương mại tự do gắn với cảng biển, logistics và sản xuất; công nghệ cao kết nối với đại học, nhân lực, năng lượng, dữ liệu và tài chính; du lịch tạo thêm thị trường cho văn hóa, nông nghiệp và sản phẩm địa phương.

 

H1: Trụ sở Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng

 

Giá trị lớn có thể nằm ở phần giao nhau giữa các động lực. Đây cũng là nơi đầu tư công nên ưu tiên: những “điểm nối” có khả năng làm nhiều nguồn lực cùng vận động. Vì vậy, bên cạnh xem xét từng dự án, cần tiến tới đánh giá chuỗi dự án và hệ sinh thái tạo tăng trưởng.

 

Mở rộng nguồn lực phải đi cùng khả năng hấp thụ và sức chịu đựng của ngân sách. Huy động thêm vốn, triển khai nhiều dự án hoặc sử dụng cơ chế tài chính mới chỉ thực sự tạo động lực khi đặt trong tổng thể cân đối ngân sách trung hạn, nghĩa vụ tài chính tương lai, chi phí vận hành - bảo trì tài sản công và khả năng tạo nguồn thu sau đầu tư. “Dư địa tài khóa” không chỉ là số vốn có thể bố trí hôm nay mà còn là khả năng duy trì an toàn tài chính để thành phố tiếp tục đầu tư trong những năm tiếp theo.

 

Đối với HĐND, đúng thẩm quyền, đúng pháp luật, đúng tiêu chuẩn, định mức, bảo đảm kỷ luật tài chính và an toàn tài khóa luôn là yêu cầu tiên quyết. Đồng thời, cần chuyển mạnh từ giám sát đầu vào và thủ tục sang giám sát kết quả, tác động và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Khi xem xét một chính sách, chương trình hay dự án lớn, bên cạnh câu hỏi “có đúng quy định không?”, cần đặt thêm: nguồn lực ở đâu; tại sao Nhà nước phải đầu tư; vốn công có thể dẫn dắt thêm bao nhiêu nguồn lực; khi nào nguồn lực chuyển thành sản phẩm và năng lực thực tế; kết quả tạo ra tăng trưởng, nguồn thu hoặc lợi ích công cộng gì; và quá trình đó có làm cho đô thị, nông thôn, miền núi phát triển hài hòa hơn hay không.

 

Có thể cô đọng yêu cầu này trong ba vế: “Chi đúng - giải ngân nhanh - tạo ra giá trị”. Chi đúng nhưng quá chậm thì mất cơ hội; giải ngân nhanh nhưng hiệu quả thấp thì lãng phí; theo đuổi hiệu quả nhưng không đúng pháp luật thì rủi ro còn lớn hơn. Giải quyết đồng thời ba yêu cầu ấy chính là bước chuyển từ quản lý ngân sách sang quản trị nguồn lực phát triển.

 

Đà Nẵng đang đứng trước cơ hội phát triển đặc biệt: không gian mới, nguồn lực mới, thể chế mới và những động lực mới xuất hiện cùng lúc. Nhưng nguồn lực tự nó không tạo ra tăng trưởng. Câu hỏi quan trọng của giai đoạn tới không chỉ là thành phố cần thêm bao nhiêu nguồn lực, mà là làm thế nào để mỗi nguồn lực hiện có tạo ra nhiều giá trị hơn và tiếp tục sinh ra nguồn lực mới. Một đồng ngân sách phải góp phần tạo thêm năng lực phát triển; một công trình hạ tầng phải mở thêm không gian kinh tế; một cơ chế mới phải giải phóng thêm đầu tư; một cực tăng trưởng phải tạo sức lan tỏa sang khu vực khác. Khi đó hình thành vòng tuần hoàn: nguồn lực tạo tăng trưởng - tăng trưởng tạo nguồn thu - nguồn thu tạo nguồn lực mới - nguồn lực mới tiếp tục được đầu tư cho phát triển.

Tác giả: Thái Hoàng Vũ - Thành ủy viên, Trưởng Ban KT-NS HĐND TP

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Thông tin - Thông báo