
Các quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố
Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành phố hiện có 11 quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước với quy mô, tính chất và phương thức hoạt động khác nhau. Việc kiện toàn hệ thống quỹ trong bối cảnh mới vì vậy không chỉ là sắp xếp tổ chức, bộ máy mà quan trọng hơn là rà soát thực chất hiệu quả hoạt động và sử dụng nguồn lực của từng quỹ.
Vấn đề cần quan tâm không chỉ là mỗi quỹ đang quản lý bao nhiêu vốn, mà còn là nguồn lực được sử dụng như thế nào, có đến đúng đối tượng, đúng mục tiêu, đúng thời điểm và tạo ra kết quả gì.
Nguồn lực bổ sung cho những mục tiêu cụ thể
Các quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước được thành lập để thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể theo quy định, góp phần bổ sung nguồn lực và tạo thêm công cụ tài chính phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Qua theo dõi, giám sát của Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND thành phố, trong 11 quỹ hiện nay có 06 quỹ hoạt động cho vay, có tính chất thu hồi vốn gốc, gồm: Quỹ Hỗ trợ nông dân, Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã, Quỹ Đầu tư phát triển thành phố, Quỹ Bảo vệ môi trường, Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển và Quỹ Phát triển đất. 05 quỹ không cho vay, chủ yếu thực hiện trợ cấp, hỗ trợ, gồm: Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng, Quỹ Phòng, chống thiên tai, Quỹ Phòng, chống tội phạm, Quỹ Hỗ trợ ngư dân và Quỹ Pháo hoa.
Sự khác nhau về chức năng, phương thức hoạt động cho thấy không thể sử dụng một thước đo chung để đánh giá hiệu quả các quỹ. Với quỹ cho vay, cần quan tâm khả năng giải ngân, thu hồi, quay vòng vốn và số đối tượng tiếp cận. Với quỹ hỗ trợ, cần đánh giá phạm vi, đối tượng và kết quả hỗ trợ. Với quỹ mang tính dự phòng, tiêu chí quan trọng là mức độ sẵn sàng nguồn lực và khả năng đáp ứng kịp thời khi tình huống phát sinh.
Do đó, quy mô vốn hay số lần phát sinh chi chưa thể phản ánh đầy đủ hiệu quả; điều quan trọng là nguồn lực có được đưa đến đúng đối tượng, đúng mục tiêu, đúng thời điểm và mang lại kết quả cụ thể hay không.
Sau sắp xếp: không chỉ kiện toàn tổ chức
Đến nay, tiến độ kiện toàn các quỹ có sự khác nhau. Quỹ Hỗ trợ nông dân đã hoàn thành hợp nhất; Quỹ Đầu tư phát triển thành phố đã được thành lập và ban hành Điều lệ tổ chức, hoạt động; Quỹ Bảo vệ môi trường được hình thành trên cơ sở hợp nhất quỹ của hai địa phương. Một số quỹ như Quỹ Phòng, chống thiên tai, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng, Quỹ Phòng, chống tội phạm vẫn đang tiếp tục được tổ chức lại phù hợp với địa giới hành chính và mô hình quản lý mới.
Đối với Quỹ Phát triển đất, HĐND thành phố đã thông qua Đề án thành lập trên cơ sở tiếp nhận nguyên trạng Quỹ Phát triển đất tỉnh Quảng Nam; UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 2834/QĐ-UBND ngày 30/6/2026 thành lập Quỹ. Các cơ quan liên quan đang tiếp tục hoàn thiện điều lệ, hội đồng quản lý, cơ chế ủy thác và quy trình vận hành.
Một điểm đáng ghi nhận trong quá trình sắp xếp là việc sắp xếp Quỹ Phát triển đất và Quỹ Hỗ trợ ngư dân của Quảng Nam, thay vì lập thêm bộ máy mới, toàn bộ hoạt động và nguồn vốn được chuyển về cho Quỹ Đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng nhận quản lý, ủy thác. Đây là cách thức mới, tập trung sắp xếp chuyển về một đầu mối chuyên nghiệp quản lý nhiều nguồn vốn, thay vì mỗi quỹ một bộ máy riêng lẻ, tốn kém chi phí và khó giám sát về hiệu quả hoạt động. Thực tế hiện nay Quỹ đầu tư phát triển thành phố đã và đang vận hành hiệu quả nguồn vốn được chuyển giao.
Qua thực tế, tiến độ kiện toàn và tình hình hoạt động giữa các quỹ còn chưa đồng đều. Một số quỹ đã có mô hình vận hành tương đối rõ, trong khi một số vẫn đang hoàn thiện cơ chế, cá biệt có quỹ hầu như không phát sinh hoạt động.
Đối với Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã, sau sắp xếp vẫn còn tồn tại hai quỹ của hai địa phương cũ. Trong đó, Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã thành phố Đà Nẵng (cũ) đã dừng giải ngân cho vay, tập trung thu hồi vốn để hoàn trả ngân sách và thực hiện thủ tục giải thể; thành phố đang nghiên cứu tổ chức lại theo hướng chỉ duy trì một quỹ. Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển cũng đang được rà soát mô hình để phù hợp với quy định pháp luật mới về chương trình, dự án tài chính vi mô.
Thực tế này cho thấy sau sắp xếp cần đi sâu đánh giá sự cần thiết và hiệu quả của từng quỹ, từ đó xác định rõ phương án tiếp tục củng cố, đổi mới mô hình, hợp nhất, chuyển giao nhiệm vụ hoặc xem xét giải thể theo quy định.
Không để nguồn lực “nằm yên” trong quỹ
Một vấn đề đáng quan tâm là có quỹ gần như không phát sinh hoạt động trong thời gian dài.
Quỹ Hỗ trợ ngư dân thành phố Đà Nẵng (cũ) có số dư tài khoản đầu năm 2025 là 6 triệu đồng; trong năm không phát sinh nguồn thu huy động, không sử dụng quỹ, không có bộ máy riêng và không có hoạt động cho vay. Quỹ Pháo hoa có số dư đầu năm 2025 là 42.702 đồng và cả năm không phát sinh hoạt động.
Tuy nhiên, ít phát sinh giao dịch chưa đủ để kết luận một quỹ hoạt động không hiệu quả. Với những quỹ có tính chất dự phòng, cần xem xét chức năng, nhiệm vụ, mức độ sẵn sàng nguồn lực và khả năng đáp ứng khi có tình huống phát sinh. Điều cần quan tâm hơn là những quỹ có quy mô nguồn lực rất nhỏ, nhiệm vụ chi không còn rõ nét và không phát sinh hoạt động trong thời gian dài nhưng vẫn phải duy trì tài khoản, chế độ báo cáo và công tác quản lý. Những trường hợp này cần được rà soát để có phương án phù hợp, tránh duy trì hình thức và phân tán nguồn lực.
Ở chiều ngược lại, đối với quỹ có nguồn lực nhưng khả năng đưa vốn vào thực tế còn hạn chế, cần quan tâm khả năng giải ngân và đưa nguồn lực vào sử dụng. Nguồn vốn đã được hình thành nhưng chậm giải ngân, chậm quay vòng cũng đồng nghĩa nguồn lực chưa kịp thời phát huy hiệu quả.
Trong bối cảnh sau sắp xếp, phạm vi quản lý của thành phố rộng hơn, nhu cầu nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, đất đai, nông nghiệp, hợp tác xã, phòng, chống thiên tai và hỗ trợ các nhóm đối tượng ngày càng đa dạng, việc khắc phục tình trạng nguồn lực phân tán, tồn đọng càng trở nên cần thiết.
Đo hiệu quả bằng kết quả đầu ra
Việc tổ chức lại hệ thống quỹ cần chuyển trọng tâm từ sắp xếp đầu mối sang nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Trước hết, cần rà soát, phân loại các quỹ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, khả năng huy động, giải ngân, thu hồi và quay vòng vốn, chi phí quản lý, đối tượng thụ hưởng và hiệu quả kinh tế - xã hội; từ đó xác định phương án phù hợp đối với từng quỹ: củng cố, đổi mới mô hình, hợp nhất, chuyển giao nhiệm vụ hoặc giải thể theo quy định. Với những quỹ đang sắp xếp, cần xác định rõ phương án, lộ trình và thời hạn hoàn thành, đồng thời bảo đảm không làm gián đoạn quyền lợi của đối tượng thụ hưởng. Cùng với đó, cần xây dựng cách thức đánh giá phù hợp từng nhóm quỹ. Đối với quỹ cho vay, cần theo dõi tỷ lệ giải ngân, thu hồi, nợ quá hạn, khả năng quay vòng vốn và số đối tượng tiếp cận. Đối với quỹ hỗ trợ, cần đánh giá phạm vi thụ hưởng, mức độ đáp ứng và kết quả hỗ trợ. Đối với vốn ủy thác, cần xác định rõ trách nhiệm của các bên và cơ chế kiểm soát rủi ro, bảo đảm sử dụng đúng mục tiêu.
Đồng thời, cần tăng cường công khai, số hóa và trách nhiệm giải trình; theo dõi thường xuyên nguồn vốn, giải ngân, thu hồi, chi phí quản lý và kết quả sử dụng vốn, qua đó kịp thời nhận diện vốn tồn đọng, những khâu chậm luân chuyển và rủi ro trong quản lý.
Đối với các quỹ đang hoạt động ổn định và có nhu cầu sử dụng vốn thực tế, cần tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, điều kiện vay, giải ngân, thu hồi vốn; rà soát thủ tục để nguồn lực được đưa vào sử dụng kịp thời nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý và kiểm soát. Điều quan trọng là cần phải đánh giá hoạt động của các quỹ cần chuyển từ việc chủ yếu quan tâm “quản lý bao nhiêu vốn, đã giải ngân hoặc chi bao nhiêu” sang “nguồn lực đã tạo ra kết quả gì”. Đó có thể là số hộ dân, hợp tác xã và các đối tượng được tiếp cận vốn; khả năng quay vòng, thu hồi vốn; phạm vi, hiệu quả hỗ trợ và những kết quả cụ thể tương ứng với mục tiêu của từng quỹ.
Để mỗi nguồn lực thực sự phát huy hiệu quả
Sau sắp xếp, yêu cầu đối với hệ thống quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước không đơn thuần là giảm số lượng quỹ hay hoàn thiện tổ chức bộ máy, mà cần phải cơ cấu lại nguồn lực gắn với hiệu quả hoạt động, khắc phục tình trạng vốn phân tán, tồn đọng và bảo đảm sử dụng đúng mục tiêu.
Không nhất thiết quỹ ít phát sinh hoạt động là quỹ không cần thiết; cũng không thể chỉ dựa vào quy mô vốn để đánh giá hiệu quả. Mỗi quỹ cần được xem xét trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu được giao, đồng thời làm rõ ba vấn đề: quỹ có còn thực sự cần thiết; nguồn lực có được đưa vào sử dụng kịp thời, đúng mục tiêu; và kết quả cuối cùng mang lại cho đối tượng thụ hưởng cũng như sự phát triển của thành phố là gì.
Đây cũng là cơ sở để tiếp tục sắp xếp, hoàn thiện cơ chế hoạt động, bảo đảm các quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước thực sự trở thành công cụ tài chính hiệu quả, đưa nguồn lực vào sử dụng kịp thời và tạo ra những kết quả cụ thể, có thể đo lường được.