Ban Dân tộc HĐND thành phố khảo sát điểm bố trí dân cư trên địa bàn xã Phước Hiệp
Thực tiễn triển khai chính sách hỗ trợ sắp xếp, ổn định dân cư giai đoạn 2021 - 2025 đã góp phần bảo đảm an toàn cho hàng nghìn hộ dân trước nguy cơ thiên tai, đồng thời tạo tiền đề quan trọng để phát triển hạ tầng và nâng cao đời sống khu vực miền núi. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng bộc lộ nhiều khó khăn về nguồn lực, quỹ đất, hạ tầng và sinh kế sau tái định cư. Những vấn đề này cho thấy yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng toàn diện hơn, phù hợp với điều kiện thực tiễn của thành phố sau khi mở rộng địa giới hành chính.
Việc Hội đồng nhân dân thành phố ban hành Nghị quyết quy định cơ chế, chính sách hỗ trợ sắp xếp, ổn định dân cư miền núi, vùng thiên tai giai đoạn 2026 - 2030 không chỉ nhằm thay thế chính sách đã hết hiệu lực mà còn thể hiện sự chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, tiếp thu kết quả khảo sát, giám sát và các kiến nghị từ địa phương, Nghị quyết hướng đến mục tiêu bảo đảm an toàn cho người dân, đồng thời tạo nền tảng cho sự phát triển ổn định, lâu dài của khu vực miền núi.
Chính sách giai đoạn 2021–2025 tạo nền tảng quan trọng cho công tác ổn định dân cư
Qua quá trình triển khai, chính sách hỗ trợ sắp xếp, ổn định dân cư miền núi đã phát huy hiệu quả tích cực, nhất là trong việc giảm thiểu rủi ro thiên tai đối với các khu vực có nguy cơ sạt lở cao. Nhiều địa phương đã chủ động rà soát các điểm dân cư không bảo đảm an toàn, xây dựng phương án di dời, bố trí tái định cư và huy động nhiều nguồn lực để đầu tư hạ tầng thiết yếu.
Đến hết năm 2025, toàn thành phố đã bố trí, sắp xếp ổn định nơi ở cho 3.370 hộ dân, đạt khoảng 43% mục tiêu đề ra; trong đó 3.048 hộ thuộc khu vực có nguy cơ thiên tai được bố trí, vượt 130% kế hoạch. Hàng nghìn hộ dân được hỗ trợ xây dựng nhà ở, san lấp nền nhà, đầu tư điện, nước sinh hoạt và các công trình thiết yếu, góp phần giảm đáng kể nguy cơ thiệt hại về người và tài sản trong mùa mưa bão.

Một điểm có nguy cơ sạt lở gần khu dân cư trên địa bàn xã Khâm Đức
Những kết quả đạt được không chỉ mang ý nghĩa bảo đảm an sinh xã hội mà còn góp phần thực hiện các mục tiêu giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, ổn định dân cư gắn với giữ gìn quốc phòng, an ninh và bảo vệ tài nguyên rừng. Quan trọng hơn, quá trình triển khai đã hình thành nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong quy hoạch khu tái định cư, huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện chính sách tại cơ sở.
Có thể khẳng định, chủ trương hỗ trợ sắp xếp, ổn định dân cư là đúng hướng và phù hợp với yêu cầu phát triển của khu vực miền núi. Tuy nhiên, kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu, trong khi những thách thức đặt ra ngày càng lớn cả về quy mô, tính chất và nguồn lực thực hiện.
Những “điểm nghẽn” cần được tháo gỡ
Kết quả khảo sát, giám sát tại nhiều địa phương cho thấy khoảng cách giữa mục tiêu chính sách và khả năng thực hiện vẫn còn khá lớn.
Đến cuối năm 2025 vẫn còn hơn 4.400 hộ chưa được bố trí theo mục tiêu của Nghị quyết. Nhiều dự án tái định cư triển khai chậm do thiếu vốn đầu tư, vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, chuẩn bị quỹ đất hoặc đầu tư hạ tầng kỹ thuật.
Một trong những khó khăn lớn nhất là nguồn lực chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. Tổng nhu cầu kinh phí giai đoạn 2021 - 2025 gần 965 tỷ đồng, trong khi nguồn vốn bố trí mới đạt khoảng 343 tỷ đồng, tương đương 35,6% nhu cầu. Việc thiếu nguồn lực khiến nhiều dự án phải giãn tiến độ, làm ảnh hưởng đến mục tiêu ổn định dân cư theo kế hoạch.
Bên cạnh đó, sau khi thực hiện di dời, không ít hộ dân vẫn gặp khó khăn về đất sản xuất, việc làm và thu nhập. Một số khu tái định cư đã đáp ứng yêu cầu về nơi ở nhưng chưa tạo được điều kiện để người dân phát triển sản xuất hoặc tiếp cận đầy đủ các dịch vụ thiết yếu. Điều này cho thấy chính sách mới chủ yếu giải quyết yêu cầu trước mắt là bảo đảm nơi ở an toàn, trong khi việc tạo sinh kế bền vững chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn.
Một vấn đề khác được đặt ra là sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, quy mô địa bàn quản lý mở rộng, số lượng khu vực có nguy cơ thiên tai tăng lên, trong khi điều kiện tự nhiên giữa các vùng có nhiều khác biệt. Điều đó đòi hỏi chính sách không thể áp dụng theo một khuôn mẫu chung mà cần có sự linh hoạt, phù hợp với đặc điểm từng địa bàn, từng nhóm đối tượng.
Thực tiễn cho thấy, hiệu quả của công tác bố trí dân cư không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng hộ đã di dời mà phải được nhìn nhận thông qua khả năng ổn định cuộc sống, phát triển sinh kế và thích ứng lâu dài của người dân tại nơi ở mới. Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện chính sách trong giai đoạn tiếp theo.
Nghị quyết giai đoạn 2026 - 2030: Chuyển từ hỗ trợ di dời sang phát triển bền vững
Từ những vấn đề đặt ra trong thực tiễn, Nghị quyết quy định cơ chế, chính sách hỗ trợ sắp xếp, ổn định dân cư miền núi, vùng thiên tai giai đoạn 2026 - 2030 được xây dựng với cách tiếp cận mới, không chỉ điều chỉnh mức hỗ trợ mà còn đổi mới tư duy hoạch định chính sách.

Phó Chủ tịch HĐND thành phố tặng quà động viên cho các hộ gia đình tại xã Trà Tân bị ảnh hưởng do các đợt mưa lũ kéo dài vào cuối năm 2025
Nếu như giai đoạn trước trọng tâm là đưa người dân ra khỏi vùng có nguy cơ cao thì Nghị quyết mới hướng đến mục tiêu ổn định toàn diện đời sống sau tái định cư. Việc bố trí nơi ở được gắn với phát triển sinh kế, đầu tư hạ tầng, hỗ trợ đất sản xuất, đào tạo nghề, giải quyết việc làm và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm tạo điều kiện để người dân phát triển bền vững tại nơi ở mới.
Nghị quyết cũng điều chỉnh tăng nhiều mức hỗ trợ để phù hợp với mặt bằng giá cả hiện nay; bổ sung chính sách hỗ trợ công trình vệ sinh; nâng mức hỗ trợ đối với trường hợp ổn định tại chỗ; đồng thời mở rộng phạm vi áp dụng trên toàn địa bàn thành phố sau hợp nhất.
Những điều chỉnh này không chỉ tháo gỡ các khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện giai đoạn trước mà còn thể hiện sự chuyển biến trong tư duy xây dựng chính sách: từ hỗ trợ đơn lẻ sang hỗ trợ tổng thể; từ giải quyết nhu cầu trước mắt sang đầu tư cho phát triển lâu dài; từ “an cư” đến “an cư gắn với lạc nghiệp”.
Có thể thấy, Nghị quyết mới không đơn thuần là tăng mức hỗ trợ mà hướng tới nâng cao chất lượng chính sách. Thay vì chỉ tập trung vào khâu ban hành cơ chế, trọng tâm được chuyển sang nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, tăng tính chủ động của địa phương, huy động và lồng ghép nhiều nguồn lực để bảo đảm tính khả thi. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu quản trị phát triển hiện đại, trong đó chính sách không chỉ giải quyết khó khăn trước mắt mà còn tạo động lực phát triển cho cả cộng đồng.
Để chính sách thực sự đi vào cuộc sống
Theo rà soát, giai đoạn 2026 - 2030 toàn thành phố còn khoảng 6.282 hộ cần được bố trí, sắp xếp ổn định. Đây là khối lượng công việc rất lớn, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành trong công tác quy hoạch, chuẩn bị quỹ đất, đầu tư hạ tầng, bố trí vốn và tổ chức thực hiện.
Bên cạnh việc ưu tiên nguồn lực đầu tư, cần tiếp tục rà soát các khu vực có nguy cơ thiên tai, hoàn thiện cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, đẩy nhanh tiến độ đầu tư các khu tái định cư và giải quyết kịp thời những vướng mắc về đất đai, xây dựng. Đồng thời, việc lồng ghép hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình giảm nghèo bền vững, đào tạo nghề và phát triển sản xuất sẽ có ý nghĩa quyết định trong việc tạo sinh kế ổn định cho người dân sau di dời.
Một yêu cầu quan trọng khác là tăng cường công tác theo dõi, đánh giá hiệu quả của từng khu tái định cư sau khi đưa vào sử dụng. Đây không chỉ là cơ sở để điều chỉnh chính sách kịp thời mà còn giúp sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư, bảo đảm người dân thực sự ổn định cuộc sống và yên tâm gắn bó lâu dài với nơi ở mới.
Nhìn tổng thể, Nghị quyết giai đoạn 2026 - 2030 không chỉ kế thừa những kết quả đạt được của giai đoạn trước mà còn phản ánh sự chuyển đổi trong tư duy hoạch định chính sách của thành phố. Từ thực tiễn triển khai, những bất cập đã được nhận diện để tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ theo hướng toàn diện, linh hoạt và bền vững hơn.
Hiệu quả của chính sách trong thời gian tới sẽ không chỉ được đo bằng số hộ được bố trí đến nơi ở mới, mà quan trọng hơn là bằng khả năng giúp người dân có cuộc sống ổn định, có việc làm, có thu nhập và có điều kiện phát triển lâu dài. Khi đó, công tác sắp xếp, ổn định dân cư sẽ không chỉ là giải pháp ứng phó với thiên tai mà còn trở thành động lực thúc đẩy phát triển vùng miền núi, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi và đồng bằng, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn mới.
Văn Thể - Thành Luân