MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐÀ NẴNG THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Lê Đức Viên
09-03-2018

Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương, có vị trí chiến lược về Kinh tế -Xã hội, An ninh - Quốc phòng đối với khu vực Miền Trung - Tây Nguyên và cả nước. Lợi thế về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, đặc biệt là cảng biển và sân bay quốc tế, nguồn tài nguyên du lịch phong phú, bờ biển đẹp, nằm ở tâm điểm đến các di sản Thế giới của Miền Trung và độ dày lịch sử, văn hoá tạo cho Đà Nẵng nhiều tiềm năng và điều kiện để phát triển du lịch, đồng thời trở thành điểm đến hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế.

Ảnh: sưu tầm

     Những năm qua, Thành phố đã chú ý đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, đặc biệt là các tuyến đường giao thông cùng những công trình kiến trúc, đã tạo ra những điều kiện tốt để thu hút đầu tư và phát triển du lịch. Bên cạnh đó nhiều loại hình du lịch mới được triển khai đã góp phần làm đa dạng hoá sản phẩm du lịch của Thành phố. Nhờ đó, ngành du lịch Thành phố đã phát triển nhanh chóng, hướng đến trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Thành phố.

     Tuy nhiên, những kết quả trên chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của Thành phố, điều đáng lưu ý‎ là quá trình phát triển du lịch còn có những mâu thuẫn với phát triển chung của Thành phố, chưa phát triển theo hướng bền vững, chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển du lịch với giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường. Đây là những hạn chế chủ yếu của phát triển du lịch ở thành phố Đà Nẵng thời gian vừa qua.

     Việc nắm vững những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch theo hướng bền vững là cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức du lịch cũng như du khách và người dân bản địa có nhận thức và hành động đúng đắn giúp du lịch phát triển theo hướng bền vững.

     I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGÀNH DU LỊCH

     1. Khái niệm về du lịch

     Từ lâu, khái niệm “du lịch” đã được các học giả sử dụng rộng rãi trên sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, mỗi thời kỳ phát triển, khái niệm về du lịch cũng mang những nét đặc trưng khác nhau và được bổ sung ngày càng hoàn thiện hơn.

     Liên đoàn Quốc tế các Tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Oragnization – IUOTO) đã đưa ra khái niệm: “Du lịch là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống”

     Năm 1963, tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), thuộc Liên Hiệp Quốc đã đưa ra khái niệm:“Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền”

     Ở Việt Nam khái niệm về du lịch được Luật Du lịch (năm 2005) định nghĩa:“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

     2. Đặc điểm của ngành du lịch

     với định nghĩa về du lịch như đã trình bày ở trên, có thể nhận thấy du lịch có những đặc điểm như sau:

     - Du lịch là ngành không khói, ít gây ô nhiễm môi trường, giúp khách du lịch vừa được nghỉ ngơi, giảm strees vừa biết thêm nhiều điều hay mới lạ mà khách chưa biết. Du lịch còn góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.

     - Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, vùng hay một quốc gia nào đó. Như vậy sản phẩm du lịch là vô hình.

     - Quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ sản phẩm diễn ra đồng thời, sản xuất kết thúc cũng là lúc tiêu thụ sản phẩm hoàn thành.

     - Quá trình sản xuất được thực hiện do nhiều công đoạn khác nhau, nói cách khác do nhiều người cùng tham gia vào quá trình sản xuất của ngành du lịch.

     - Sản phẩm của ngành du lịch không thể dự trữ và cũng không có tồn kho.

     3. Vai trò của ngành Du lịch đối với phát triển Kinh tế - Xã hội

     a) Vai trò xuất khẩu tại chỗ

     Khía cạnh xuất khẩu tại chỗ của ngành du lịch được thể hiện ở cung cấp các dịch vụ cho khách du lịch quốc tế và bán các sản phẩm hàng hóa cho khách du lịch.

     b) Vai trò xóa đói giảm nghèo

     Phát triển du lịch tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân địa phương, nhờ đó nâng cao thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo. Bên cạnh đó, du lịch phát triển sẽ thu hút được nhiều khách quốc tế đến thăm quan, nghỉ ngơi và tiêu thụ khoản ngoại tệ lớn.

     c) Vai trò truyền thông giao lưu văn hóa

     Hoạt động du lịch còn thể hiện nét văn hóa và nếp sống văn minh của một xứ sở. Thông qua các hoạt động du lịch quảng bá hữu hiệu hình ảnh của một xứ sở.

     d) Vai trò bảo vệ môi trường

     Ngành du lịch còn có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường và được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói.Mục tiêu của ngành du lịch là cung cấp các dịch vụ cho khách du hành với chất lượng đảm bảo sự hài lòng cho khách trong suốt chuyến đi. Mục tiêu này đòi hỏi trước hết các dịch vụ phải đảm bảo vệ sinh môi trường.

     II. LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

     1. Khái niệm về phát triển bền vững

     Năm 1987, tại Hội nghị của Uỷ ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) do bà Grohalem Brundtland thành lập đã công bố thuật ngữ “phát triển bền vững” trong bản báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” như sau: “Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng những điều kiện hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”[5,43]. Cũng từ đó, phát triển bền vững nổi lên thành mô hình mới cho chính sách toàn cầu, khu vực, quốc gia và từng địa phương; đã được nêu tại Chương trình 21 Hội nghị Thế giới của Liên hợp quốc (Hội nghị Thượng đỉnh Rio, 1992).

     Hiện nay, vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về “phát triển bền vững”. Theo quan điểm của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) năm 1980 thì “phát triển bền vững phải cân nhắc đến việc khai thác các tài nguyên có khả năng tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức xen kẽ các hoạt động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau”. Tuy nhiên, quan điểm này chỉ mới chú trọng đến khía cạnh sử dụng tài nguyên mà chưa đề cập đến các khía cạnh khác.

     Khái niệm do Uỷ ban Liên hợp quốc về Môi trường và Phát  triển  (UNCED) đưa  ra năm  1987 là khái niệm có ý nghĩa khái quát và được sử dụng rộng rãi hơn cả. Theo UNCED, "Phát triển bền vững thoả mãn những nhu cầu của hiện tại nhưng không làm giảm khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau". Như vậy, nếu một hoạt động có tính bền vững, xét về mặt lý thuyết nó có thể được thực hiện mãi mãi.

     Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định Phát triển bền vững được hình thành trong sự hoà nhập, đan xen và thoả hiệp của 3 hệ thống tương tác là hệ kinh tế và hệ văn hoá-xã hội và hệ môi trường”. Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống. Như vậy, phát triển bền vững nằm ở phần giao nhau của 3 vòng tròn: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội, bền vững về môi trường.

 

 Hình 1. Mô hình phát triển bền vững Theo[1,95]

     Phát triển bền vững là sự giao nhau của ba hệ thống trên. Nếu thiếu một trong ba yếu tố thì không thể gọi là phát triển bền vững. Tuy nhiên, cần phải nhận thức rằng, ba yếu tố này phụ thuộc vào nhau, có thể hỗ trợ lẫn nhau nhưng cũng có thể cạnh tranh với nhau. Nói đến phát triển bền vững là tạo được sự cân bằng giữa ba yếu tố trên, trong đó:

     Bền vững về kinh tế là tăng trưởng kinh tế, tạo sự thịnh vượng cho các cộng đồng dân cư và đạt hiệu quả cho các hoạt động kinh tế.

     Bền vững về xã hội là đảm bảo sự bình đẳng, công bằng cho xã hội. Tôn trọng sự khác biệt của các cộng đồng dân cư nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm

     Bền vững về môi trường là sử dụng hiệu quả, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn sự đa dạng sinh học và hạn chế ô nhiễm môi trường.

     Tại Việt Nam, để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước như Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra và thực hiện cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam ban hành "Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam" (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam), trong đó nêu rõ: “Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”[4].

     2. Khái niệm về phát triển du lịch bền vững

     Xu thế phát triển du lịch thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang đứng trước sự bắt buộc phải sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của mình, đặc biệt là nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn.

     Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa thống nhất về quan niệm “phát triển du lịch bền vững”. Theo Hens L,1998 thì "Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống"[6,105]. Định nghĩa này mới chỉ chú trọng đến công tác quản lý tài nguyên du lịch để cho du lịch được phát triển bền vững.

     Theo Machado (2003) “Các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch, và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá huỷ tài nguyên mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương”[7,86]. Định nghĩa này chỉ mới dừng lại ở việc tập trung vào tính bền vững của các hình thức du lịch chứ chưa đề cập đến sự bền vững cho toàn ngành du lịch.

     Năm 1992, Tổ chức du lịch thế giới (WTO – the World Tourism Organisation) định nghĩa: “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển du lịch trong tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”. Đây là định nghĩa mang tính khái quát một cách trọn vẹn các nội dung liên quan đến phát triển du lịch bền vững. [2]

     Với những quan điểm trên thì có thể coi phát triển du lịch bền vững là một nhánh của phát triển bền vững nói chung đã được Hội nghị của Uỷ ban Thế giới về Phát triển và Môi trường xác định năm 1987. Phát triển du lịch bền vững là hoạt động phát triển du lịch ở một khu vực cụ thể sao cho nội dung, hình thức và quy mô là thích hợp và bền vững theo thời gian, không làm suy thoái môi trường, không làm ảnh hưởng đến khả năng hỗ trợ các hoạt động phát triển khác. Ngược lại tính bền vững của hoạt động phát triển du lịch được xây dựng trên nền tảng sự thành công trong phát triển các ngành khác, sự phát triển chung của toàn xã hội.

     Mặc dù, các chuyên gia hành đầu trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực khác liên quan ở Việt Nam còn có những quan điểm chưa thật sự thống nhất về khái niệm phát triển du lịch bền vững, tuy nhiên cho đến nay đa số các ý kiến đều cho rằng: “Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tài nguyên tự nhiên và nhân văn nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch; có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn và đảm bảo sự đóng góp cho công tác bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, cho công tác bảo vệ môi trường để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương”[2].

     3. Mục tiêu của phát triển du lịch bền vững:

     Mục tiêu của Du lịch bền vững theo Inskeep, 1991 [8] là:

     + Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường.

     + Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển.

     + Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa.

     + Đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách.

     + Duy trì chất lượng môi trường.

     Còn theo Hội đồng khoa học, Tổng Cục Du lịch, 2005 [3], 12 mục tiêu trong chương trình của du lịch bền vững bao gồm:

     1. Hiệu quả kinh tế: Đảm bảo tính hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh để các doanh nghiệp và các điểm du lịch có khả năng tiếp tục phát triển phồn thịnh và đạt lợi nhuận lâu dài.

     2. Sự phồn thịnh cho địa phương: Tăng tối đa đóng góp của du lịch đối với sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế địa phương tại các điểm du lịch, khu du lịch; bao gồm phần tiêu dùng của khách du lịch được giữ lại tại địa phương.

     3. Chất lượng việc làm: Tăng cường số lượng và chất lượng việc làm tại địa phương do ngành du lịch tạo ra và được ngành du lịch hỗ trợ, không có sự phân biệt đối xử về giới và các mặt khác.

     4. Công bằng xã hội: Cần có sự phân phối lại lợi ích kinh tế và xã hội thuđược từ hoạt động du lịch một cách công bằng và rộng rãi cho tất cả những người trong cộng đồng đáng được hưởng.

     5. Sự thỏa mãn của khách du lịch: Cung cấp những dịch vụ an toàn, chất lượng cao thỏa mãn đầy đủ yêu cầu của du khách, không phân biệt đối xử về giới, chủng tộc, thu nhập cũng như các mặt khác.

     6. Khả năng kiểm soát của địa phương: Thu hút và trao quyền cho cộngđồng địa phương xây dựng kế hoạch và đề ra các quyết định về quản lý và phát triển du lịch, có sự tham khảo tư vấn của các bên liên quan.

     7. An sinh cộng đồng: Duy trì và tăng cường chất lượng cuộc sống của người dân địa phương, bao gồm cơ cấu tổ chức xã hội và cách tiếp cận các nguồn tài nguyên, hệ thống hỗ trợ đời sống, tránh làm suy thoái và khai thác quá mức môi trường cũng như xã hội dưới mọi hình thức.

     8. Đa dạng văn hoá: Tôn trọng và tăng cường giá trị các di sản lịch sử, bản sắc văn  hoá  dân tộc, truyền  thống và những bản sắc đặc biệt của cộng đồng dân cư địa phương tại các điểm du lịch.

     9. Thống nhất về tự nhiên: Duy trì và nâng cao chất lượng của cảnh vật, kể cả ở nông thôn cũng như thành thị, tránh để môi trường xuống cấp.

     10. Đa dạng sinh học: Hỗ trợ cho việc bảo tồn khu vực tự nhiên, môi trường sống, sinh vật hoang dã và giảm thiểu thiệt hại đối với các yếu tố này

     11. Hiệu quả của các nguồn lực: Giảm thiểu mức sử dụng những nguồn tài nguyên quý hiếm và không thể tái tạo được trong việc phát triển và triển khai các cơ sở, phương tiện và dịch vụ du lịch.

     12. Môi trường trong lành: Giảm thiểu ô nhiễm không khí, nước, đất vàrác thải từ du khách và các hãng du lịch.

     Từ đó, chúng ta có thể thấy mục tiêu của phát triển du lịch bền vững là:

     - Phát triển bền vững về kinh tế: tức là thu nhập phải lớn hơn chi phí, phải đạt được sự tăng trưởng cao, ổn định trong thời gian dài, tối ưu hoá đóng góp của ngành du lịch cho thu nhập quốc dân góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển.

     - Phát triển bền vững về môi trường: phải sử dụng, bảo vệ tài nguyên và môi trường theo hướng tiết kiệm, bền vững, đảm bảo sự tái tạo và phục hồi của tài nguyên, nâng cao chất lượng của tài nguyên và môi trường, thu hút cộng đồng và du khách vào các hoạt động bảo tồn, tôn tạo tài nguyên.

     - Phát triển bền vững về xã hội: thu hút cộng đồng tham gia vào các hoạt động du lịch, tạo nhiều việc làm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương, cải thiện tính công bằng xã hội, đa dạng hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách.

     4. Những nguyên tắc đảm bảo phát triển du lịch bền vững [5]

     Du lịch là ngành kinh tế phụ thuộc chặt chẽ vào chất lượng môi trường, cả môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn. Vì thế, ngành du lịch phải có trách nhiệm đối với môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội và phải hướng tới sự phát triển bền vững hơn. Để làm được điều này, ngành du lịch cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

     - Khai thác, sử dụng các tài nguyên một cách hợp lý

     - Hạn chế sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải

     - Phát triển du lịch phải gắn với bản tồn tính đa dạng về tài nguyên thiên nhiên và nhân văn.

     - Phát triển phải phù hợp với tổng thể kinh tế-xã hội

     - Chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương

     - Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động du lịch

     - Thường xuyên trao đổi, tham khảo ý kiến với cộng đồng địa phương và các đối tượng liên quan.

     - Chú trọng đào tạo, nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường.

     - Tăng cường quảng bá tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm

     - Thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu.

     Phát triển du lịch bền vững là xu thế phát triển của du lịch đang được các nước trên thế giới quan tâm nhằm không chỉ đáp ứng nhu cầu hiện tại mà còn cho cả tương lai. Phát triển du lịch theo hướng bền vững, có nghĩa là về mặt sinh thái phải được đảm bảo lâu dài, đồng thời có hiệu quả về mặt kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội. Để du lịch phát triển theo hướng bền vững, cần đặt sự lành mạnh của từng khu du lịch, từng vùng du lịch lên trên, lên trước lợi ích trước mắt. Bên cạnh đó, cần tuân thủ những nguyên tắc cụ thể để du lịch phát triển theo hướng bền vững.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 [1] Lê Văn Thăng & Trần Anh Tuấn & Bùi Thị Thu (2004), Giáo trình du lịch và môi trường, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội.

[2] Phạm Trung Lương và các tác giả (2002), Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước.

[3] Tổng Cục Du lịch (2005), Giới thiệu sách cẩm nang về phát triển du lịch bền vững, Hội đồng khoa học – Tổng Cục Du lịch, Hà Nội.

[4] Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam, Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam.

[5] World Commission on Environment and Development (WECD). 1987. Our Common Furture. New York: Oxford University Press.

[6] Hens L. (1998), Tourism and environment, M.Sc. Course, Free University of Brussel, Belgium.

[7] Machado A. (2003), Tourism and Sustainable Development, Capacity Building for Tourism Development in Vietnam, VNAT and FUDESO, Vietnam.

 [8] Inskeep, E.(1995), National and regional Tourism planning, Methodlodogies and Case Studies, Routledge, London.

                                                                                                                                                       -Nguồn: Viện Nghiên cứu phát triển KTXH TP. Đà Nẵng-

CÁC TIN KHÁC