In trang

 (Bài viết có tham khảo nghiên cứu của PGS.TS Lê Hữu Ái và TS.Lâm Bá Hòa)

     Quá trình đô thị hóa mang lại nhiều hiệu quả tích cực trong công cuộc phát triển của mỗi quốc gia. Đối với Đà Nẵng, quá trình này diễn ra nhanh chóng, đặc biệt là giai đoạn từ năm 2003 đến nay. Nói đến đô thị hóa, người ta thường nghĩ đến một lối sống văn minh, hiện đại, đời sống người dân ngày càng được nâng cao cùng với nhịp sống ồn ào, náo nhiệt. Tuy nhiên chúng ta dường như chỉ quan tâm đến sự phát triển về mặt vật chất mà ít chú ý đến đời sống tinh thần của cư dân đô thị. Câu hỏi đặt ra cho chúng ta: Liệu rằng môi trường sống hiện đại mà chúng ta cất công gầy dựng có phù hợp với lối sống của đại bộ phận người dân xuất thân từ nền văn hóa làng quê? Quy hoạch đô thị theo hướng hiện đại nhưng phải chăng vận hành đô thị theo kiểu đụng đâu làm đó? Nỗ lực cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin tạo ra lối sống công nghiệp nơi công sở liệu có phù hợp với con người chưa thoát khỏi những thói quen đặc hữu của người nông dân? Giá trị cộng đồng là thước đo đô thị văn minh nhưng liệu rằng không gian công cộng (quảng trường, công viên, nhà văn hóa, sinh hoạt cộng đồng...) hiện nay có tương xứng hay không?... Vậy lối sống người Đà Nẵng có đặc trưng gì và nó được định hình trên cơ sở nào? Việc xác định chuẩn mực về lối sống đô thị cho cộng đồng dân cư theo tiêu chí gì? 

 

     Chúng ta điều biết rằng con người Đà Nẵng mang đậm dấu ấn con người Xứ Quảng, với những đặc tính như: giản dị, cần cù, chịu khó, lạc quan, yêu đời, trọng tình nghĩa, cương trực, thẳng thắn, ham học hỏi… Ngoài ra con người Đà Nẵng còn có tính cách khá rõ nét đó chính là khát vọng vươn lên, dấn thân vì đại cuộc, nhạy cảm và dễ dàng thích ứng với cái mới. Chính những tính cách này đã tạo nên một con người Đà Nẵng anh hùng trong chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc; trong thời kỳ kiến thiết đất nước, vẫn với tính cách đó, Người Đà Nẵng dám nghĩ dám làm, bắt cầu vượt sông, vươn mình ra biển lớn, mang lại cho thành phố diện mạo khang trang, hiện đại. Nếu như nền tảng văn hóa hình thành nên tính cách thì đặc trưng môi trường kinh tế, xã hội góp phần định hình lối sống cho cư dân. Đặc trưng nền kinh tế Đà Nẵng là sự đan xen của nhiều thành phần kinh tế, cùng với môi trường sống thay đổi do quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng (đô thị hóa theo kiểu biểu kiến-giả tạo, đô thị hóa trên diện rộng) và kết quả tất yếu đã hình thành một lối sống pha trộn, hỗn tạp những yếu tố cũ qui định hành vi văn hóa, ứng xử và giao tiếp với những yếu tố văn hóa mới hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau chưa định hình và ổn định. Do vậy, nhiều nhà xã hội học đô thị thống nhất với nhau quan điểm cho rằng, lối sống đô thị ở nước ta nói chung và lối sống Đà Nẵng nói riêng là lối sống hỗn tạp, đan xen và chứa nhiều mâu thuẫn, biểu hiện qua một số đặc trưng sau: 
Nhịp sống nhanh của đô thị đối lập với thói trì trệ, tĩnh tại của lối sống nông thôn. Khi nói đến đô thị, chúng ta thường hình dung đó là môi trường ồn ào với nhịp sống nhanh, nhiều biến động. Môi trường sống đô thị đòi hỏi sự nề nếp, trật tự, đúng giờ (không phải ngẫu nhiên mà biểu tượng thường thấy ở các khu chợ, bến xe, nhà thờ là chiếc đồng hồ thật to-biểu trưng cho đô thị). Nhưng thực tế hiện nay ở Đà Nẵng đang có sự đan xen, trung hòa giữa lối sống nông thôn truyền thống và lối sống đô thị hiện đại. Quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh, đã tạo ra trong tâm lý những biến đổi ngược chiều: anh nông dân vùng ven thường quen với công việc đồng áng, trồng trọt và chăn nuôi bỗng chốc trở thành cư dân đô thị; chị tiểu thương phố chợ, công chức trong các cơ quan nhà nước xem chừng gốc gác lại là những cư dân vùng thôn quê chuyển dịch vào thành phố làm ăn sinh sống. Chính điều này đã tạo ra một lối sống đô thị nhuốm màu nông thôn. Đó là “thủ phạm” cho sự hỗn tạp, suy nghĩ vụn vặt, làm ăn tản mạn, tính vô tổ chức, đề cao kinh nghiệm bản thân, ngại và không tiếp cận các tri thức khoa học. 
     Quy hoạch đô thị theo hướng hiện đại đang đối lập với quản lý và vận hành đô thị theo kiểu đụng đâu làm đó, manh mún, tự phát. Trong những năm gần đây, Đà Nẵng được xem là hình mẫu của công tác qui hoạch đô thị ở Việt Nam. Chính nhờ điều này mà bộ mặt thành phố có nhiều thay đổi, nhưng nhìn chung vẫn manh mún, chưa xứng với tiềm năng của thành phố. Công cuộc tái thiết đô thị sau hơn 20 năm qua với khát vọng mang lại cuộc cách mạng hướng đến mục tiêu tạo dựng thành phố hiện đại, văn minh vào loại bậc nhất Việt Nam thậm chí còn có cả ước mơ sánh vai cùng Hồng Kông, Singarpore…Nhưng thử nhìn lại, đằng sau các con đường khang trang, vẫn còn đó những khu nhà chen chúc kiệt hẻm; sau một dự án lớn là các khu tái định cư với điều kiện sống thậm chí còn tệ hơn các thôn xóm trước đây. Mục tiêu hạ tầng đi trước nhưng thực chất chỉ mới dừng lại việc mở được các con đường to hơn, xây nhiều cây cầu để kết nối, trong khi đó thành phố vẫn đối mặt với tắc đường, ô nhiễm môi trường biển, thiếu nước sinh hoạt…vẫn cứ loay hoay kiểu lắp thêm đèn tín hiệu hạn chế tai nạn, gắn thêm máy bơm khắc phục nước thải ra biển, cấm đổ xe theo ngày chẳn lẽ và xót xa nhất vẫn là hệ thống xe buýt khá sang trọng tương xứng với môi trường đô thị thì vắng bóng người đi bởi người dân vẫn quen với chiếc xe máy tiện lợi cho thói quen đụng đâu làm đó, tiện đâu ghé đó... Đây chính là nghịch lý lớn, đã và đang đặt ra cho chúng ta suy ngẫm. 
     Đô thị hóa hướng về giá trị cộng đồng, còn ngược lại, con người lại có xu hướng hướng về cá nhân, biệt lập. Cần phải hiểu rằng quá trình đô thị hoá phải xuất phát trên quan điểm tổng hoà phát triển bền vững giữa kinh tế, xã hội, ổn định môi trường sinh thái và bảo đảm cho một tổ chức liên kết không gian chặt chẽ giữa đô thị - nông thôn. Thực tế quá trình đô thị hóa theo kiểu “biểu kiến-giả tạo” đang diễn ra làm rạn vỡ các mối quan hệ gắn bó từng là cơ sở cho lối sống nông thôn, đồng thời làm biến dạng cộng đồng nông thôn và ngược lại càng làm méo mó các quy chuẩn của cộng đồng thành thị. Bản chất của quá trình trên chính là nông thôn hóa thành thị và thành thị hóa nông thôn. Với lối đô thị, người ta quen lấy hệ giá trị làm qui chuẩn chung cho cộng đồng, còn ngược lại, lối sống tiểu nông lại luôn hướng về lợi ích manh mún của cá nhân, chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt, tạm thời. Đó chính là lực cản to lớn kìm hãm quá trình tạo dựng lối sống đô thị cho Đà Nẵng. Tư duy tiểu nông luôn đề cao kinh nghiệm vốn dĩ chỉ phù hợp với phương thức trồng trọt và chăn nuôi. Sống trong môi trường đô thị thì hoàn toàn khác, nếu tuyệt đối hóa kinh nghiệm thì ngay tức khắc phải đối mặt với những hệ lụy mà nó gây ra: Muốn qua đường phải có kinh nghiệm, tổ chức giao thông phù hợp với thói quen, xây nhà cao tầng cũng theo kinh nghiệm, thậm chí ký kết hợp tác làm ăn với nước ngoài cũng theo kinh nghiệm… Trong khi đó, vận hành một đô thị phải dựa trên nền tảng tri thức khoa học, khoa học quản lý, tuân thủ sự nghiêm ngặt của pháp luật, quy chế, nội quy… Theo tôi, chính tư duy hạn hẹp theo kiểu kinh nghiệm như nói ở trên sẽ là lực cản to lớn trong việc hướng tới những giá trị cộng đồng và là sức ì của quá trình đô thị hóa.
     Văn hóa làng xã xen lẫn công cuộc cải cách hành chính, hiện đại hóa công sở. Hằng ngày, chúng ta vẫn đang chứng kiến trong công sở ở nước ta nói chung, Đà Nẵng nói riêng vẫn còn hiện diện tính chất công thần của văn hóa làng quê, chính bệnh công thần này lại là lực cản rất lớn cho quá trình chuẩn hóa, chuyên môn hóa đội ngũ cán bộ. Bởi nó sẽ dẫn tới tệ quan liêu, hách dịch, bè phái, cục bộ địa phương, sự trì trệ trong cách nghĩ cách làm. Thực tế cho thấy, khi đi tới nhiều cơ quan, công sở, chúng ta vẫn dễ dàng bắt gặp sự hiện diện cố hữa của vấn nạn đề cao kinh nghiệm cá nhân, ngôi thứ theo kiểu họ hàng, tông tộc (Anh Ba, chị Tư, chú Sáu...). Chính điều này đã dẫn tới hệ lụy là thói vô kỷ luật trong chấp hành giờ giấc, tùy tiện trong cung cách ứng xử không theo chức năng, nhiệm vụ công việc mà theo quan hệ huyết thống, họ hàng. Nguy hại hơn là việc chúng ta đã ngang nhiên mang văn hóa làng vào trong công sở, đó là: hương khói, cúng bái, lập bàn thờ ngay tại nơi làm việc; nội trợ cho gia đình ngay tại cơ quan để tiết kiệm chi phí điện, nước; lấy của chung làm của riêng, lợi dụng việc chung để hành xử công việc cá nhân. 
     Với những nghịch lý nêu trên, theo tôi để định hình nên một lối sống đô thị Đà Nẵng cần có sự đồng thuận, quyết tâm cao của mọi tầng lớp nhân dân và những giải pháp mang tính khoa học, đồng bộ và có hệ thống. 
     Trước hết, cần phải tiến hành đồng bộ quá trình hiện đại hóa gắn chặt với việc thay đổi lối sống mang tính hiện đại của cư dân đô thị trong phát triển kinh tế và tiếp biến văn hóa. Tôi cho rằng đây là giải pháp quan trọng nhất. Bởi, một đô thị được xem là hiện đại thì trước hết phải bắt đầu từ sự thay đổi trong suy nghĩ, thói quen hằng ngày, cung cách làm ăn cũng như ý thức người dân theo hướng công nghiệp. Nếu chỉ chú trọng đến sự phồn thịnh về kinh tế, nâng cấp kết cấu hạ tầng cơ sở, chỉnh trang đô thị mà lãng quên việc tạo dựng lối sống hiện đại, hướng tới hội nhập toàn diện...thì sự phát triển đó cũng chỉ mang tính hình thức. Khi các nhu cầu thiết yếu của người dân như: phương tiện đi lại, nhà ở, công ăn việc làm, môi trường sống tiện ích ... được đảm bảo thì mới tạo dựng được cơ sở vững bền cho tiến trình phát triển của một đô thị theo hướng hiện đại. 
     Hai là, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý đô thị theo hướng hiện đại, có hệ thống và tầm nhìn dài hạn. Thực tế cho thấy, chỉ trên cơ sở của cơ chế và những chính sách mang tính đồng bộ, cứng rắn, được đảm bảo bằng sự cưỡng chế pháp luật thì hiệu quả việc đầu tư cho xây dựng cơ sở vật chất, cho hạ tầng kỹ thật, cho quy hoạch đô theo hướng hiện đại mới được đảm bảo. Khi qui hoạch đô thị, chúng ta cần mạnh dạn tham khảo kinh nghiệm từ các thành phố lớn, văn minh trên thế giới, nhưng cũng phải dựa trên đặc thù về mặt kinh tế - xã hội của địa phương. Cần phải có chiến lược dài hạn trong qui hoạch và phát triển đô thị, tránh và chống việc tổ chức qui hoạch theo “tư duy nhiệm kỳ”. Phải quyết liệt hơn nữa với việc xử phạt các lỗi như: xây dựng trái phép, không phép, lấn chiếm lòng lề đường... Trong chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ công chức quản lý đô thị phải thực hiện chuẩn hóa, tránh lối tư duy kinh nghiệm mang tính tự phát tiểu nông. 
     Ba là, tăng cường công tác giáo dục nhằm nâng cao ý thức công dân hướng tới các giá trị cộng đồng, hạn chế tính tự phát, tư hữu của lối sống tiểu nông. Để hướng người dân tới những giá trị mang tính cộng đồng của không gian đô thị hiện đại thì cần tăng cường giáo dục trách nhiệm công dân, ý thức cộng đồng trong sinh hoạt thường ngày cho cư dân ở cụm dân cư, khối phố, phải xử phạt nghiêm những hành vi thiếu văn hoá nơi công cộng, tránh cung cách suy nghĩ “chuông làng nào làng đó đánh, thánh làng nào, làng đó thờ”.
     Bốn là, chú trọng đầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở, bổ sung không gian công cộng (quảng trường, công viên, vườn hoa, bãi tắm công cộng...), bảo tồn phát huy giá trị văn hóa bản địa (đình làng, làng nghề truyền thống..). Như chúng ta đều biết giá trị cộng đồng chỉ được hình thành và phát huy thông qua các hoạt động mang tính xã hội, đây cũng là nhu cầu thiết yếu của con người hiện đại. Thông qua hoạt động giao tiếp cộng đồng, giá trị cá nhân được phát huy cùng với tính cố kết cộng đồng được tăng cường và tất yếu ý thức người dân sẽ được nâng cao trong việc định hình một lối sống văn minh, hiện đại. Ngoài ra thông hoạt động xã hội - diễn ra ở không gian công cộng sẽ góp phần gìn giữ phát huy giá trị văn hóa truyền thống, đạo đức xã hội, nâng cao ý thức trách nhiệm người dân nhằm giảm thiểu các tệ nạn xã hội, phòng chống tội phạm và bảo vệ an ninh quốc phòng. 
     Cuối cùng, thực hiện các biện pháp cụ thể và cấp bách có tính chất hành chính để hạn chế đến mức thấp nhất việc mang văn hóa làng xã vào trong công sở. Theo tôi cần phải thực hiện một cách mạnh mẽ và quyết liệt hơn các biện pháp hành chính, cụ thể như: đẩy mạnh công tác chuẩn hóa đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, có cơ chế rõ ràng và minh bạch trong việc sử dụng cán bộ, hạn chế lối tư duy kinh nghiệm, cục bộ, bản vị trong bố trí và sắp xếp cán bộ. Nghiêm cấm tuyệt đối các cơ quan công quyền, hành chính sự nghiệp lập bàn thờ, bát hương nơi công sở. Khuyến khích gìn giữ và phát triển các lễ hội truyền thống, nhưng phải hướng về giá trị văn hóa cộng đồng, chống và tránh đến mức tối đa việc trục lợi và tạo môi trường cho mê tín dị đoan phát triển./.
                                                                       TÔ VĂN HÙNG
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
LƯỢT TRUY CẬP

Hit Counter