In trang

                                                Hải trình Về với Trường Sa, 19-29/5/207, Tô Hùng

      Tôi được góp mặt trong 65 thành viên của đoàn cán bộ Đà Nẵng đi thăm và làm việc tại các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Trước ngày khởi hành, tâm trạng khá lo lắng bởi nhiều thông tin truyền nhau rằng chuyến đi sẽ rất vất vả, nào là say sóng, nào là thiếu thốn đủ điều về cơ sở vật chất, sự khắc nghiệt của biển khơi hay hành trình trên biển luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro…Nhưng tôi cũng như nhiều thành viên khác trong đoàn thật sự an tâm khi con tàu sẽ đưa mình ra với đảo là chiếc tàu Kiểm Ngư mang số hiệu KN 491 hiện đại, mọi thứ đều tiện nghi, sạch sẽ từ nơi ăn chốn ở, khu vệ sinh, chỗ sinh hoạt đến các bộ phận phục vụ đều rất tươm tất, không ai bảo ai, nhưng trong ánh mắt mọi người đều toát lên sự phấn khích, cùng với con tàu đầy uy lực sẵn sàng ra khơi bắt đầu chuyến hải trình khám phá. 

 

     Chúng tôi lần lượt đi qua 2 đảo nổi và 8 đảo chìm của quần đảo Trường Sa. Khởi đầu chuyến hải trình, đoàn đến thăm Đảo Đá Lát vào lúc giữa trưa, tàu phải neo từ xa, đại biểu phải trung chuyển bằng ca nô mới vào được đảo. Ngay từ khi mới tiếp cận đảo, hình ảnh khu đảo nổi đầu tiên gây cho tôi cảm xúc thật mạnh mẽ.  Một trạm gác lẻ loi giữa mênh mông biển trời, bốn bề chỉ có một màu xanh của nước và nước. Sự khắc nghiệt nhất chính nơi này có lẽ là sự đơn độc, đôi khi chỉ là một ánh đèn nhấp nháy từ xa của tàu cá ngư dân cũng khiến anh em reo mừng như bắt được hình bóng của đất liền. Sự đơn độc trên từng ánh mắt, từng tiếng reo mừng, sự đơn độc giữa biển khơi chỉ bốn bề là sóng.

     Thị trấn Trường Sa chào đón chúng tôi bằng Lễ thượng cờ trang nghiêm, có lẽ đây là lần đầu tiên mọi người được hát quốc ca bằng tất cả nội lực của mình, tiếng hát vang lên trên quảng trường trung tâm, tôi như cảm nhận từng ca từ của bản Tiến quân ca hào hùng. Lá quốc kỳ tung bay, màu đỏ tươi giữa bầu trời trong vắt, phải chăng chính là màu máu của bao thế hệ đã ngã xuống nơi miền đất đầu sóng ngọn gió này. Điều khiến tôi ngỡ ngàng ngay khi bước chân lên thị trấn Trường Sa mà người ta gọi là Đảo Trường Sa lớn đó chính là những công trình được xây dựng nơi đây, này là tháp chủ quyền biên giới hải đảo sừng sững uy nghi giữa đất trời, kia là đài tưởng niệm được tạo nên từ những khối đá với nét chạm khắc thật tinh tế; Khu trạm xá với những trang thiết bị rất hiện đại đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe cho cư dân trên đảo và sẵn sàng ứng cứu mọi ngư dân trong các tình huấn khẩn cấp; ngôi trường được đầu tư xây dựng từ quỹ học bổng Vừ A Dính, dù chỉ vỏn vẹn có 11 em học sinh nhưng vẫn đủ đầy với mái ngói tường xanh và rộn ràng tiếng ê a của các em nhỏ. Hệ thống cánh quạt gió rất hiện đại vươn lên đầy sức sống, ẩn trong những tán xanh là màu ngói đỏ nhấp nhô, cả khu đảo nhìn từ xa có dáng dấp của một khu đô thị đặc trưng vùng biển đảo đang trong thời kỳ đầu dựng xây đầy triển vọng. Cư dân trên đảo là những cặp vợ chồng vẫn còn trong độ tuổi thanh xuân tình nguyện ra đây lập xóm. Khu xóm là những dãy nhà liền kề được xây dựng kiên cố, đường được đặt tên với hàng cây bàng thẳng tắp. Họ sống trong ngôi nhà được thiết kế theo lối kiến trúc nông thôn nhưng khá tiện nghi, nhà có 2 gian, gian dành để ở, gian dành để sinh hoạt, tiếp khách và thờ cúng, khu trồng rau và nuôi gia súc, gia cầm. Khi chúng tôi đến thăm, chủ nhà đã chuẩn bị rất chu đáo trà nước, kẹo bánh, ai cũng hồ hởi ra tận cổng đón khách đến chơi; bầy trẻ súm sít, cả chú vện quẩy đuôi liên hồi với khách lạ, những câu chuyện kể về cuộc sống thường nhật xen lẫn nỗi đau đáu về quê nhà làm cho không khí cuộc trò chuyện trở nên trầm lắng. Điều đặc biệt là trên đảo, dù không quá đông cư dân sinh sống nhưng tín ngưỡng vẫn tồn tại. Ngôi chùa nhỏ được xây dựng ở một nơi rất trang trọng, với vẻ trang nghiêm, trầm mặc ẩn mình sau hàng cây phong ba xanh mướt, tiếng kinh kệ hòa quyện với khói hương trầm mang lại sự bình yên trên đảo đến lạ. Ấn tượng nhất là những gương mặt xạm nắng của các chiến sỹ trẻ, nụ cười tươi ẩn chứa bao nỗi niềm: “cuộc sống ngoài này đủ đầy lắm anh chị ơi, ngoài các ca trực, chúng em được tham gia nhiều hoạt động văn thể, phong ba bão táp không làm chúng em sờn chí, chỉ có nỗi nhớ đất liền luôn canh cánh…”. Chỉ có nỗi nhớ luôn canh cánh, câu nói cứ ám ảnh tôi mãi trong suốt hành trình và cả khi đã về với đất liền. 

     Chúng tôi lần lượt đi qua những khu đảo chìm: Đảo Tiên Nữ, Đảo Đá Đông, Đảo Thuyền Chài, Đảo Núi Đá Le…tất cả dường như có chung một kiểu kiến tạo, với hai trạm gác 3 tầng cao trong thật uy nghiêm được nối với nhau bằng chiếc cầu bê tông hẹp; bao quanh cũng vẫn là nước, mọi góc nhìn đều là màu xanh của trời, màu của đất nâu chỉ vỏn vẹn nằm trong chiếc khay nhỏ dùng để trồng rau xanh, một gốc hoa phong ba đặt ở phòng làm việc mang lại chút cỏ cây cho khu đảo. Khi thủy triều xuống, bãi chìm nổi lên với những dáng hình huyền diệu, hình của cô tiên nữ nằm dài trên bãi cát, chiếc thuyền chài neo đậu bến bình yên. Thời tiết khi chúng tôi đặt chân đến các khu đảo được cho là thuận lợi nhất trong năm, nhưng ai cũng cảm nhận được cái khắc nghiệt bởi nắng rát quyện với mùi chát mặn của biển khơi. Qua câu chuyện kể, khi mùa giông bão đến, tàu thuyền không thể vào tiếp tế nhu yếu phẩm, họ phải ăn tất cả những gì có trên đảo, đôi khi cả những chú chó nuôi cũng là nguồn lương thực để chống chọi với cái đói và cái rét; mùa nắng thì thiếu nước ngọt, mùa mưa thì nguồn điện từ năng lượng mặt trời không đủ chiếu sáng khi tối trời. Câu chuyện của người lính đảo về đứa con trai được 8 tháng tuổi nhưng cha chưa nhìn thấy mặt, chàng trai trẻ trong những hành trang đến với biển khơi là bức ảnh của người vợ mới cưới được đặt trang trọng nơi đầu giường khiến ai cũng ngấn lệ, “nay da em nâu tươi màu suy nghĩ, nhớ ngày phượng nở hai đứa hẹn mùa thi…”, khúc hát ngân lên chưa tròn câu đã sũng ướt trong nước mắt. Chúng tôi chia tay đảo với món quà là những cành hoa được làm từ ốc biển, lung linh sắc màu và chan chứa tình yêu của những người lính đảo. Đến giờ thì tôi đã thấm hiểu cái tên đảo chìm, phần bãi cát chìm sâu trong biển ấy khi thủy triều lên cao luôn có sự sống của những rặng san hô cùng với nhiều loài hải sản sinh sôi nẩy nở, tràn đầy sức sống như ý chí mãnh liệt ẩn chứa bên trong những con người bình dị với nước da rám nắng kia; chìm sâu trong tâm khảm của mỗi chiến sỹ hải đảo xa xôi chính là nỗi đau đáu luôn hướng về quê nhà và chìm sâu trong tâm trí của mỗi người dân Việt Nam chính là tình yêu quê hương đất nước quá đỗi mãnh liệt.

     Chuyến hải trình tiếp tục đưa chúng tôi đến với nhà giàn DK1. Thấp thoáng trong màn sương sớm, nhà giàn hiện lên quá mong manh. Ngạc nhiên, sao cuộc sống có thể diễn ra ngay trên ngôi nhà chong chênh đến vậy giữa biển khơi bao la mênh mông sóng nước? Theo kế hoạch, tàu neo lại để đưa đại biểu vào thăm các chiến sỹ trên nhà giàn DK1 tại Cụm Tư Chính. Biển sáng nay bỗng nhiên thật yên ả, dường như nghe được từng hơi thở của những người con một thời trai trẻ đầy kiêu hãnh, họ đến với biển và đã ra đi để về với biển. Lễ tưởng niệm diễn ra ngay trên boong tàu với những lễ nghi giản đơn như đời lính, nghi ngút khói hương, không gian trầm lắng, những canh hoa bé nhỏ tan vào biển khơi cùng với những cánh hạc giấy mang theo bao nỗi tiếc thương vô hạn, biển mẹ bao la hãy ốm ấp những người con kiên trung của tổ quốc. Tàu neo chờ mãi từ sáng sớm đến tận chiều nhưng vẫn không vào được nhà giàn vì sóng lớn, vậy là mọi người nghĩ ra cách tổ chức chương trình giao lưu văn nghệ qua điện đàm. Cung bậc cảm xúc tuôn trào, chỉ được trông thấy hình dáng của nhau, từ rất xa người lính vẫy cờ theo nhịp của những lời ca mang đậm nghĩa tình, từ xứ Nghệ yêu thương đến thành phố cảng Hải Phòng kiên trung … lời ca tiếng hát lần lượt đi qua những miền quê yêu thương của tổ quốc nơi có người thân của các chiến sỹ đang sống trên nhà dàn DK1, người hát người nghe mắt hoen đỏ, cảnh tượng này mãi mãi khó phai. So với cuộc sống trên đảo thì những người lính canh gác tại các khu nhà giàn có lẽ khắc nghiệt hơn bởi họ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, gian khổ, sự sống quá đỗi mong manh khi phong ba bão táp ngày đêm rình rập. Quả đúng như vậy, những năm 1990, 1996, 1998 và 2000, sức tàn phá khủng khiếp của những trận bão đã đánh sụp một số khu nhà giàn, nơi mà đoàn đang có mặt, với tất cả những tình cảm từ trong sâu thẳm của lòng mình, đoàn đại biểu dành phút mặc niệm trước những hy sinh cao cả ấy. Nhà giàn là một trạm gác được dựng lên bằng thép treo lơ lửng ở độ cao cách mặt nước biển vài chục mét, thực phẩm được cung cấp qua hệ thống ròng rọc từ trên cao chuyền xuống, hầu như họ không được tiếp cận với mặt nước nếu như không có nhiệm vụ gì, càng không được rời khỏi nhà giàn dù chỉ vài phút vì đó là chiến hào. Ngày qua ngày, họ chỉ biết quanh quẩn trong không gian bó hẹp, kết nối với con người qua ống nhòm và chỉ có thể nghe tiếng hát từ vô tuyến. Tôi cảm nhận được một tinh thần thép và nghị lực phi thường của những chàng trai mang sứ mệnh gác biển qua giọng ca thật trong trẻo của người lính trẻ hát tặng cho đoàn công tác. Tàu rời vùng biển Tư Chính gởi lời chào tạm biệt nhà giàn, mong sao chân cứng đá mềm, nhà giàn mãi luôn sừng sững giữa phong ba bão táp, đất liền vững tin ở các anh. 

     Tạm nén lại những xúc cảm nghẹn ngào, cung bậc từ Trường Sa được chuyển về với thành phố bên núi bên sông, vẫn cái vẻ chân chất của những con người xứ Quảng, bầu nhiệt huyết lại được hâm nóng bởi cây ghi ta và nhịp sóng vỗ, nhạc và thơ đến từ miền Kinh Bắc hòa cùng câu ca cổ đến từ Miền Nam, hội ngộ và kết giao, bằng hữu bấy lâu nay thêm thắm đẫm nghĩa tình đồng chí, “có hiểu được lòng nhau, mới tới bờ tới bến…”, đêm liên hoan chia tay cuộc hải trình lắng đọng trong sự nuối tiếc. Tạm biệt Trường Sa yêu dấu thân yêu!

 

                                                                                                                 TÔ VĂN HÙNG

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
LƯỢT TRUY CẬP

Hit Counter